Hội nghị khu vực về biến đổi khí hậu ở Thái Lan
Hội nghị khu vực về biến đổi khí hậu diễn ra từ ngày 1 đến 3 tháng 7 vừa qua được tổ chức ở Thái Lan tiếp tục là một trong những hoạt động phối hợp toàn cầu nhằm mục tiêu đạt được thỏa thuận hiệu quả chống biến đổi khí hậu tại Paris vào tháng 12 tới đây.
Sinh hoạt vừa nêu qui tụ trên 400 người tham dự từ hơn 20 quốc gia; trong đó có các khoa học gia, những nhà hoạch định chính sách, những tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, những cơ quan phát triển.
Thông điệp kết hội nghị
Châu Á được cho là ở tuyến đầu trong công cuộc đấu tranh chống lại tình trạng biến đổi khí hậu mà nguyên nhân được giới khoa học chứng minh cụ thể trong báo cáo thứ năm của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc IPCC.
Tại hội nghị khu vực vừa qua lại nêu ra cảnh báo về khí gây hiệu ứng nhà kính cho chính con người thải vào không khí vẫn tiếp tục gia tăng liên tục. Nếu như tình trạng này không được kiểm soát thì nhiệt độ Trái Đất đến cuối thế kỷ này, tức vào năm 2100, sẽ tăng lên 4 đến 5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ các quốc gia trong khu vực Châu Á được nói chiếm phẩn nửa của toàn thế giới.
Chính Châu Á sẽ lại là nơi chịu thương tổn nhất bởi những tác động của tình trạng biến đổi khí hậu do tần suất và mức độ nghiêm trọng của những hiện tượng thời tiết cực đoan gồm nước biển dâng, dạng thức thời tiết thay đổi …, trong khi đó khả ứng ứng phó lại giới hạn.
Nếu như tình trạng này không được kiểm soát thì nhiệt độ Trái Đất đến cuối thế kỷ này, tức vào năm 2100, sẽ tăng lên 4 đến 5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp
Những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu đe dọa những hổ trợ thiết yếu cho đời sống, cơ sở hạ tầng, hoạt động nông nghiệp, đa dạng sinh thái, và an ninh lương thực. Các chứng bệnh do vật chủ trung gian gây nên gia tăng, Lụt lội, hạn hán xảy ra, nước ngọt khan hiếm… Những thiên tai khủng khiếp như đợt lụt ‘đại hồng thủy’ ở Thái Lan vào năm 2011; trận siêu bão Hải Yến quét qua vùng miền trung Philippines vào năm 2013, và ngay trong tháng 6 năm nay những đợt nóng khủng khiếp tại Ấn Độ và Pakistan giết chết nhiều người…
Trước cảnh báo cũng như thực tế đã xảy ra, vừa qua nhiều khối nước trên thế giới cũng thống nhất với yêu cầu khoa học là phải hạn chế không để nhiệt độ Trái đất nóng thêm quá 2 độ C vào cuối thế kỷ này.
Đây là một thách thức nhưng vì sự sống còn của con người nên không thể có bất cứ chọn lựa nào khác. Càng chần chừ thì tổn phí để khắc phục và thích ứng sẽ càng cao; cũng như sẽ giới hạn khả năng ứng phó của con người trước những biến đổi xảy ra.
Giới khoa học đưa ra một giải pháp là phải chuyển đổi sang một xã hội carbon thấp, rồi đi đến phi carbon bằng những năng lượng tái tạo. Giải pháp công nghệ cho hướng đi này được giới khoa học tìm ra và bảo đảm giúp triển khai.
Tại hội nghị, những người tham gia đều thấy rằng hoạt động đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng trên toàn thế giới, đặc biệt ở Châu Á. Tuy nhiên trong hai đến ba thập niên nữa chỉ nên phát triển những đô thị được thiết kết với mô hình hạ tầng carbon thấp và thích ứng với khí hậu. Hội nghị nhắc nhở các quốc gia Châu Á cần phải học bài học quá khứ, tránh hướng đi sai lạc buộc chặt những đô thị của họ với nhiên liệu phát thải khí carbon và dễ thương tổn vì khi hậu thay đổi.
Kêu gọi được nêu ra là thế giới phải tạo nên được những cơ chế nhằm hỗ trợ cho các nhu cầu về công nghệ, nhu cầu tài chính và việc xây dựng năng lực; đặc biệt cho những quốc gia đang phát triển với thu nhập thấp và trung bình, trong quá trình chuyển tiếp cần thiết.
Để có được những thay đổi, Châu Á cần phải có cơ sở kiến thức đặc biệt về khu vực và khả năng giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Những tác nhân khu vực và quốc tế như Khối ASEAN và Liên Hiệp quốc cần đóng vai trò chính trong tổ chức đối thoại giữa các nhà khoa học, các nhà làm chính sách và thực thi chính sách.
Các nhà nước cần phải có ý chí chính trị mạnh mẽ tăng yêu cầu cần thiết đối phó với vấn nạn biến đổi khí hậu.
Chuyên gia Việt báo cáo hoạt động
Trong ba ngày hội nghị, một số chuyên gia người Việt tham gia trình bày những hoạt động được tiến hành liên quan công tác ứng phó và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam.
Cô Phạm Lê Mỹ Duyên từ Đại học Cần Thơ trình bày đề tài nghiên cứu mang tên ‘Đánh giá sự tổn thương tại khu vực ven biển thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long’. Cô cho biết về nội dung nghiên cứu được tiến hành như sau:
“ Việc đánh giá tổn thương ở Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long thì nghiên cứu của tôi là ở tỉnh Bến Tre. Đây là một tỉnh ven biển của Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nặng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Châu Á sẽ lại là nơi chịu thương tổn nhất bởi những tác động của tình trạng biến đổi khí hậu do tần suất và mức độ nghiêm trọng của những hiện tượng thời tiết cực đoan gồm nước biển dâng, dạng thức thời tiết thay đổi
Nghiên cứu của tôi dựa vào phương pháp phỏng vấn xem ý kiến của ngưởi dân và ý kiến của cán bộ địa phương về những tổn thương mà họ đã và đang bị; những ảnh hưởng của lũ lụt, xâm nhập mặn và họ có những biện pháp nào ứng phó hay không.

Các khoa học gia tham dự Hội nghị . (www.rfcc2015.ait.asia)
Kết quả thì hiện tại khu vực ven/giáp biển của Bến Tre đang bị ảnh hưởng, tổn thương nhiều nhất. Còn phần phía trên của Bến Tre thì ít bị ảnh hưởng. Ở đó người dân có khả năng thích nghi với những ảnh hưởng của ví dụ như lũ lụt. Họ có những biện pháp như xây đê hay thay đổi lịch thời vụ cho phù hợp. Vùng ven biển do bị xâm nhập mặn, việc nuôi trồng thủy sản ở đó dễ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Tác động của dịch bệnh cũng gây thiệt hại kinh tế.
Theo nghiên cứu của tôi, trong tương lại phía nội đồng ở giữa Bến Tre mức độ ảnh hưởng sẽ lại tăng lên. Ở khu vực đó người dân không bị lũ lụt bao giờ hay bị xâm nhập mặn; nhưng trong tương lai khả năng xâm nhập mặn sẽ lấn sâu vào nội đồng mà họ chưa có được kinh nghiệm để ứng phó và còn chủ quan với tình trạng đó nên dễ bị tổn thương hơn. ”
Thạc sĩ Nguyễn Hoàng Bảo Phú, giảng viên Bộ môn Quản lý Môi trường, Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh chọn thành phố Hội An để nghiên cứu về tình trạng nước biển dâng tác động đến thành phố cổ này. Đây là vấn đề được trình bày với hội nghị. Thạc sĩ Hoàng Bảo Phú cho biết:
“ Đối với nước biển dâng ( sea level rise), điều này cực kỳ quan trọng đối với những vùng ven biển vì liên quan đến vấn đề qui hoạch như thế nào để bảo đảm. Ví dụ bây giờ xây dựng một đê chắn lũ… thì phải xây dựng được chuẩn mực này làm sao cho phù hợp, vì nếu như xây xong và 10 năm sau nước biển dâng lên phải xây lại thì không phù hợp.
Thông thường những giải pháp mang tính quy hoạch như vậy thì những thành phố và cơ quan chính quyền khi thực hiện việc quy hoạch phải cân nhắc những dữ liệu này. Nhưng hiện nay chúng ta đang rất khó khăn trong việc xây dựng những cái gọi là ‘biện pháp thích ứng’ tốn kém như vậy vì thiếu vốn. Nên những thành phố người ta không làm được hoặc làm mà thiếu hiệu quả.
Tuy nhiên một số biện pháp thích ứng một cách đơn giản từ phía người dân thì mình có thể làm được.
Một điểm trong đề tài mà tôi thực hiện là khi diễn ra biến đổi khí hậu sẽ tác động đến việc sử dụng nước. Về nhu cầu sử dụng nước thì vào mùa hè nóng nhu cầu sử dụng nước tăng lên, và vào mùa lũ nước chung quanh nhưng không thể sử dụng được, từ đó người dân dùng biện pháp trữ nước. Bình thường người ta đã có trự nước rồi nên mình có thể cân nhắc xem như đó là biện pháp thích ứng tự phát của người dân.
Tuy nhiên vấn đề là phải trữ như thế nào để qua thời gian hạn hán hay lũ lụt mà người ta vẫn có thể sử dụng được.
Biện pháp này thì thực ra người dân đã áp dụng rồi nhưng không hiệu quả, ví dụ như người ta mua bình trữ 1m3 hay1,5 m3 tùy theo qui mô hộ gia đình. Phía chính quyền có thể can thiệp là khuyến nghị từ phía người dân cho khu vực ( họ đang ở) nên sử dụng qui mô bình chứa nước như thế nào cho phù hợp. Thận chí độ cao ( để bình chứa nước) cũng quan trọng. Ví dụ qui mô nước lũ hiện nay ở Hội An có thể lên cao đến 3 mét, vậy chiều cao nơi để bể chứa nước mà hiện nay đa số gia đình đặt trên nhà vệ sinh, còn nhà nào có điều kiện nhiều tầng thì đặt ở tầng trên cùng. Vậy thì ở những vùng quê phải khuyến khích người ta xây nó ở những nơi cao hơn ví dụ ở tầng gác…Khi đó người dân trữ nước vào mũa lũ nước sẽ không bị nhiễm bẩn bởi nước lũ. Đây là những giải pháp mà người dân đã áp dụng rồi nhưng vẫn có thể giúp họ ứng dụng có hiệu quả khi biến đổi khí hậu gây ra tác động cho họ.”
Trong khi đó một chuyên gia phân tích năng lượng và tư vấn chính sách người Việt từ Đại học Paris Diderot, Pháp, anh Nguyễn Trịnh Hoàng Anh trình bày tại hội nghị đề tài ‘Thay đổi định chế và điều kiện thị trường cho sự chuyển đổi sang carbon thấp tại Việt Nam’. Theo chuyên gia này thì vẫn còn có những trở ngại trong việc phát triển các loại năng lượng tái tạo tại những quốc gia đang phát triển như Việt Nam:
Khi nói đến tác động của tình trạng biến đổi khí hậu, người ta luôn nói đến những quốc đảo nằm giữa biển khơi và những nước ven biển như Việt Nam vì đó là những nơi chịu tác động nhiều nhất một khi Trái Đất nóng lên, băng tại hai cực cũng như trên những đỉnh núi cao tan chảy làm nước biển dâng lên
“ Thật ra ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Thái Lan hay các nước khác ở khu vực Châu Á thì trở ngại lớn nhất trong việc phát triển năng lượng tái tạo là chi phí đầu tư từ nghiên cứu cho đến triển khai các dự án. Bởi vì khi nói đến năng lượng tái tạo là gió, mặt trời… Ai cũng thấy nhưng làm thế nào để biết cụ thể có bao nhiêu, đầu tư vào đâu thì sẽ có hiệu quả trong phát điện ổn định, rồi chi phí được bù đắp sau quá trình hoạt động của những nhà máy? Chúng ta vẫn còn đang thiếu những báo cáo đó mà không thể nào ngay lập tức chúng ta có thể làm được. Trong những năm gần đây Việt Nam đã tham gia cùng với các nhà khoa học trong nước và các nhà khoa học nước ngoài xây dựng những bản báo cáo về tiềm năng năng lượng gió, năng lượng mặt trời. Thế nhưng phải cập nhật thường xuyên do biến đổi khí hậu, và những biến đổi cả về mặt tự nhiên và xã hội khiến nó thay đổi. Rồi khi nói đến tiềm năng, chúng ta nói đến tiềm năng về mặt lý thuyết, tiềm năng về mặt kỹ thuật, tiềm năng về mặt kinh tế rất khác nhau; vì vậy cần phải có nhiều nghiên cứu cụ thể hơn nữa.
Đó là trở ngại về tiềm năng, sau đó là rào cản về chi phí vì đối với những năng lượng tái tạo thì hiện nay chi phí đầu tư khá cao. Không chỉ Việt Nam mà tất cả mọi người trên thế giới đều kỳ vọng sau một thời gian nữa, chi phí đầu tư giảm đi do qui mô lớn hơn trên toàn cầu và công nghệ được thương mại hóa.”
Đánh giá của quan chức nước ngoài
Một khi nói đến tác động của tình trạng biến đổi khí hậu, người ta luôn nói đến những quốc đảo nằm giữa biển khơi và những nước ven biển như Việt Nam vì đó là những nơi chịu tác động nhiều nhất một khi Trái Đất nóng lên, băng tại hai cực cũng như trên những đỉnh núi cao tan chảy làm nước biển dâng lên. Những nơi này phải có chương trình hành động ứng phó và thích nghi.
Đại sứ Philippe Zeller, chuyên gia tư vấn ngoại giao cho chính phủ Pháp và là đại sứ cho Châu Á của Hội nghị Biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc COP 21 ở Paris vào tháng 12 tới đưa ra đánh giá chính phủ Hà Nội hiện nay có ý thức đến vấn đề tác động của biến đổi khí hậu và đó là điểm tốt.
Mục Khoa học- Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Hẹn gặp lại các bạn trong chương trình kỳ tới.
No comments:
Post a Comment