Monday, May 5, 2014

Hải quân Mỹ chi 18 tỷ USD mua tàu ngầm Virginia

Hải quân Mỹ chi 18 tỷ USD mua tàu ngầm Virginia

VietnamDefence - Hải quân Mỹ đã ký hợp đồng với các công ty Mỹ General Dynamics Electric Boat (GDEB) và Newport News Shipbuilding (NNS) thuộc Huntington Ingalls Industries (HII) các hợp đồng đóng 10 tàu ngầm hạt nhân lớp Virginia trị giá 17,6 tỷ USD.
Các công ty này sẽ đóng các tàu ngầm mới cho đến năm 2019.

Các hợp đồng được ký với điều kiện giá cố định. Các tàu ngầm sẽ được đóng theo thiết kế cải tiến Block IV. Theo điều kiện hợp đồng, GDEB và NNS sẽ đóng tàu ngầm với tiến độ 2 chiếc/năm trong vòng 5 năm.

Theo ông Matt Mulherin, chủ tịch hãng đóng tàu NNS, đây là hợp đồng tàu ngầm lớn nhất mà quân đội Mỹ từng ký.

Trong khuôn khổ hợp đồng, các tàu ngầm được đóng sẽ có số hiệu từ SSN 792 đến SSN 801. Hiện chưa tàu nào được đặt tên.

Tàu thứ nhất sẽ được khởi công vào ngày 1/5/2014; còn tàu cuối cùng dự định nhận vào biên chế Hải quân Mỹ vào năm 2023.

Hiện nay, Hải quân Mỹ có 10 tàu ngầm lớp Virginia; ngoài ra, còn 4 tàu lớp này đang được đóng.

Hải quân Mỹ dự định đưa tổng số tàu ngầm đa năng lớp Virginia lên tới 30 chiếc. Dự kiến, các tàu này sẽ hoạt động trong biên chế ít nhất đến năm 2060. Tàu ngầm lớp Virginia có lượng giãn nước 7.800 tấn, chiều dài 115 m và chiều rộng 10 m, tốc độ đến 25 hải lý/h, độ sâu lặn tối đa là 480 m.
Nguồn: Military-industry, 29.4.2014.

Hà Nội phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan nổi vào vùng biển Việt Nam

Hà Nội phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan nổi vào vùng biển Việt Nam

Giàn khoan dầu của China National Offshore Oil Corporation (CNOOC) ngoài khơi tỉnh Liêu Đông, vịnh Bột Hải, Trung Quốc. Ảnh này chụp trong tháng  03/2005
Giàn khoan dầu của China National Offshore Oil Corporation (CNOOC) ngoài khơi tỉnh Liêu Đông, vịnh Bột Hải, Trung Quốc. Ảnh này chụp trong tháng 03/2005
REUTERS/China Daily/Files

Anh Vũ
Theo nguồn tin báo chí trong nước, hôm qua 4/5/2014, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình tuyên bố phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan dầu vào vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Vào ngày 02/05/2014, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ra thông cáo cho biết  Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc ( CNOOC) đã đưa giàn khoan nổi Hải Dương 981 vào vị trí cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý (có tọa độ 15029’ vĩ Bắc, 111012’ kinh Đông), nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Cục Hải sự Trung Quốc, cũng đã xác nhận giàn khoan HD – 981 của họ đang tiến hành các hoạt động khoan tại tọa độ nói trên.
Ngày 04/5/2014, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã có thư gửi Chủ tịch và Tổng giám đốc của Tổng Công ty dầu khí Hải dương Trung Quốc cực lực phản đối hành động này và kiên quyết yêu cầu Tổng Công ty dầu khí Hải dương Trung Quốc dừng ngay lập tức các hoạt động bất hợp pháp và rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam.
Trả lời báo chí về hành động nói trên của Trung Quốc, ngày 04/05/2014, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Hải Bình khẳng định vị trí tọa độ hoạt động của giàn khoan dầu Trung Quốc « nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý ».
Ông Lê Hải Bình tuyên bố « Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển của Việt Nam khi chưa được phép của Việt Nam đều là bất hợp pháp và vô giá trị, Việt Nam kiên quyết phản đối ».
Cũng trong ngày hôm nay,  trang tin Vietnamnet ở trong nước dẫn các nguồn tin báo chí Đài Loan cho biết quân đội Trung Quốc đang chuẩn bị xây dựng một cơ sở quân sự tại Gạc Ma, một đảo nằm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng từ năm 1988. Theo các nguồn tin trên, Trung Quốc có thể sớm xây dựng một sân bay mới trên đảo Gạc Ma để tăng cường khả năng triển khai lực lượng ở Biển Đông.
Phát ngôn viên Lê Hải Bình, hôm qua một lần nữa khẳng định : « Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình được xác định phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 ».
TAGS: BIỂN ĐÔNG - CHÂU Á - CHỦ QUYỀN - TRANH CHẤP - TRUNG QUỐC - VIỆT NAM

Saturday, May 3, 2014

Hải quân Trung Quốc ngạo mạn và liều lĩnh?

Hải quân Trung Quốc ngạo mạn và liều lĩnh?
(Tin tức 24h) - Những hành động của hải quân Trung Quốc thời gian gần đây đã bộc lộ thực tế rằng hải quân Trung Quốc thiếu kinh nghiệm, ngạo mạn và liều lĩnh.
Trong một bài viết mới đây trên Trang Chiến lược, giới phân tích quân sự Mỹ đã đưa ra nhận định về các hành vi của hải quân Trung Quốc cũng như chiến thuật mà nước này sử dụng nhằm giành quyền kiểm soát Biển Đông cũng như các lãnh thổ tranh chấp, trong đó có các đảo tranh chấp với các nước láng giềng như Nhật Bản. Từ những so sánh lịch sử, giới phân tích Mỹ đã đặt tiêu đề “Trung Quốc và những chiến lược nguy hiểm cũ kĩ”.
Tàu hải quân Trung Quốc
Tàu hải quân Trung Quốc
Giới lãnh đạo hải quân và tình báo Mỹ đang lúng túng trước chiến lược của Trung Quốc là sử dụng hăm dọa hơn là sử dụng vũ khí hoặc đe dọa trực tiếp hòng giành quyền kiểm soát Biển Đông cũng như một số đảo tranh chấp. Người Mỹ vẫn chưa hiểu được liệu đây là một chiến lược tính toán kỹ lưỡng hay là một phần hậu quả của sự thiếu kinh nghiệm từ phía Trung Quốc.
Đối với các sĩ quan hải quân cấp cao của Mỹ từng phục vụ trong những năm 1980 thì những gì Trung Quốc đang làm gợi nhớ lại chiến thuật của Nga trước đây. Đó là chiến thuật đối đầu của “Chú gà trên biển” (trong tiếng Anh Mỹ, chú gà là từ lóng để chỉ máy bay hạm) mà Nga áp dụng để ngăn chặn chiến hạm Mỹ tiếp cận quan sát các chiến hạm hoặc tàu trinh sát của Nga trên biển.
Tuy nhiên, Trung Quốc lại khác Nga ở chỗ họ không chỉ sử dụng chiến thuật này mà còn đòi chủ quyền và kiểm soát các vùng biển như Biển Đông, mà theo luật pháp và các hiệp ước quốc tế mà Trung Quốc đã ký kết thì họ chẳng có một yêu sách thực tế nào.
Trung Quốc thường xuyên thị uy bằng các đội tàu cá đông đảo
Trung Quốc thường xuyên thị uy bằng các đội tàu cá đông đảo
Mặt khác, Trung Quốc áp dụng chiến thuật này một cách thiếu thận trọng hơn so với Nga. Người Nga sử dụng tàu chiến để cơ động và tạo ra các mối đe dọa, trong khi Trung Quốc thường xuyên sử dụng các tàu thương mại, đặc biệt là tàu đánh cá để làm điều tương tự.
Trung Quốc thậm chí áp dụng chiến thuật này cả ở những vùng biển quốc tế, nơi không hề có tranh chấp nào và tạo ra những nguy cơ rất cao dẫn tới các vụ va chạm đắt giá hoặc chết người. Chính điều này đã khiến không ít người trong giới tướng lĩnh hải quân Mỹ đánh giá hành vi kiểu này là hậu quả của sự thiếu kinh nghiệm của các sĩ quan hải quân Trung Quốc cộng thêm với thói ngạo mạn và liều lĩnh.
Các nhà nghiên cứu lịch sử hải quân đã tìm thấy ở đây những mô hình điển hình. Đó là khi Trung Quốc bắt đầu xây dựng lực lượng hải quân hiện đại đầu tiên theo kiểu của phương Tây vào cuối thế kỷ 19. Khi đó, lực lượng này cũng què quặt do nạn tham nhũng, thói kiêu ngạo và sự thiếu kinh nghiệm.
Chính điều đó đã khiến hải quân Trung Quốc thất bại trước một hải quân Nhật Bản hiện đại tương đương nhưng mẫn cán hơn và thực tế hơn. Nhật Bản sau đó thậm chí còn đánh bại Nga cả trên biển và trên đất liền vào năm 1905, một điều chưa từng có tiền lệ khi một quốc gia Đông Á đánh bại một quốc gia phương Tây.
Thế nhưng, tác giả bài viết này cũng chỉ ra rằng Trung Quốc lại đang đi theo con đường của Nhật Bản sau đó, một con đường đưa Nhật Bản tới thất bại thê thảm.
Trong Thế chiến I, Nhật Bản đã tham gia phe Hiệp ước và nhanh chóng chiếm các thuộc địa của Đức ở Thái Bình Dương. Nhật Bản tiếp tục duy trì sự chiếm đóng này sau Thế chiến I, song lại cảm thấy mình chưa được tôn trọng một cách đầy đủ. Năm 1941, sự phẫn uất cộng thêm thói kiêu ngạo đã khiến Nhật Bản tấn công Mỹ và các nước từng là đồng minh trong Thế chiến I. Một kết cục thảm hại đối với Nhật Bản. Đó là bài học nhưng dường như không được thế hệ lãnh đạo hiện nay của hải quân Trung Quốc rút ra.
Dường như Trung Quốc đang có kế hoạch giành các lãnh thổ tranh chấp bằng chiến thuật “đánh chiếm và đàm phán”. Chiến thuật này có nghĩa là Trung Quốc nhanh chóng huy động lực lượng và đánh chiếm một lãnh thổ của Hàn Quốc hay Nhật Bản rồi đề nghị hòa bình.
Điều đó là có thể, song lại chứa đựng nguy cơ lớn khi phải đối đầu với một đối thủ như Nhật Bản vốn được huấn luyện tốt hơn, rất kiên quyết và nhiều kinh nghiệm trong tác chiến hải quân. Việc thất bại với chiến thuật này sẽ là một hậu quả thảm khốc đối với giới lãnh đạo Trung Quốc, vốn bị chính người dân trong nước không ưa bởi tham nhũng và khả năng quản lý yếu kém.
Tàu hải quân Nhật Bản
Tàu hải quân Nhật Bản
Theo tác giả bài viết, chiến thuật “đánh chiếm và đàm phán” có thể có tác dụng khi đối đầu với Philippines hoặc Việt Nam, song với một nước láng giềng cứng rắn có không quân và hải quân mạnh hơn thì việc áp dụng chiến thuật này là cực kỳ phức tạp có thể khiến Trung Quốc thất bại không thể chịu đựng nổi. Khi thất bại, Trung Quốc có thể đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân. Nhưng hành động này sẽ vượt quá giới hạn mà chưa có bất kỳ ai dám làm kể từ năm 1945 đến nay.
Bài viết kết luận rằng: “Trung Quốc đang chơi một trò chơi nguy hiểm mà theo giới phân tích Mỹ, ngay cả giới lãnh đạo Trung Quốc cũng không hiểu hết được nó nguy hiểm như thế nào!”
Đông Triều (Tổng hợp)

'Mỹ có bổn phận giúp đỡ nếu Philippines bị tấn công ở Biển Đông'

'Mỹ có bổn phận giúp đỡ nếu Philippines bị tấn công ở Biển Đông'

Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario phát biểu trong cuộc họp báo tại Manila, ngày 30/4/2014.
Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario phát biểu trong cuộc họp báo tại Manila, ngày 30/4/2014.
CỠ CHỮ 
Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho rằng Hoa Kỳ có bổn phận dựa trên hiệp ước để giúp đỡ Philippines trong trường hợp xảy ra một vụ tấn công nhắm vào lãnh thổ hoặc lực lượng vũ trang của họ ở Biển Nam Trung Hoa, vùng biển mà Việt Nam gọi là Biển Đông và cũng có đòi hỏi chủ quyền.

Ông del Rosario tuyên bố như vậy hôm thứ tư, hai ngày sau khi Washington và Manila ký kết một hiệp định hợp tác quốc phòng để các lực lượng Mỹ được tiếp cận nhiều hơn các căn cứ quân sự của Philippines và triển khai tàu bè, phi cơ, cùng với trang thiết bị và binh sĩ để bảo vệ an ninh hải dương.

Khi nói chuyện với các quân nhân Hoa Kỳ và Philippines tại Manila hồi đầu tuần này, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama nói rằng hiệp định này chứng tỏ quyết tâm sắt đá của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ cho quốc gia đồng minh lâu đời nhất ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, ông Obama không nói rõ là Hoa Kỳ có bảo vệ Philippines hay không trong trường hợp nước này bị tấn công vì vụ tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông.

Tuyên bố ngày hôm nay của Ngoại trưởng del Rosario rõ ràng là nhắm tới mục tiêu xóa tan những mối nghi ngờ về phạm vi áp dụng của hiệp ước. Ông nói rằng “Dựa theo Hiệp ước Phòng thủ chung, Hoa Kỳ sẽ giúp Philippines nếu lãnh thổ Philippines bị tấn công hoặc lực lượng vũ trang của Philippines bị tấn công ở Thái bình dương; và trong một văn thư ngoại giao năm 1999, Hoa Kỳ đã xác nhận rằng Biển Đông được xem là một phần của khu vực Thái bình dương.”

Trung Quốc đòi chủ quyền hầu như toàn bộ Biển Đông, và trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã có những hành động bị nhiều người cho hung hãn để khẳng định yêu sách chủ quyền. Năm 2012, Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát Bãi cạn Scarborough và ngăn không cho ngư dân Philippines tới gần vùng biển có tranh chấp.

Tháng trước, lực lượng tuần duyên Trung Quốc cũng đã ngăn không cho hai chiếc tàu dân sự của Philippines mang lương thực và nước uống cho binh sĩ của họ trên một chiếc tàu vận tải của hải quân tại một địa điểm có tranh chấp khác là Bãi cạn Second Thomas.

Nguồn: Reuters, AFP
 

Việt Nam dành thêm 2 lô thăm dò dầu khí cho công ty Ấn Ðộ

Việt Nam dành thêm 2 lô thăm dò dầu khí cho công ty Ấn Ðộ

CỠ CHỮ 
Việt Nam đề nghị dành thêm hai lô thăm dò dầu khí ở Biển Đông cho công ty quốc doanh ONGC Videsh (OVL) của Ấn Độ, bên cạnh 5 lô được đề nghị hồi tháng 11 năm ngoái.

Tờ Kinh tế Thời báo của Ấn Ðộ trích lời các giới chức chính phủ và các viên chức ngành dầu khí nói rằng OVL chỉ chọn 1 trong 5 lô đã được đề nghị và sẽ thẩm định hai lô mới.

Tất cả các lô đó được dành cho OVL mà không thông qua thủ tục gọi thầu.

Tin tức về hợp tác dầu khí giữa Việt Nam và Ấn Ðộ được loan báo trong lúc Việt Nam ra sức tăng cường hợp tác quân sự với nhiều nước, kể cả Ấn Ðộ, Hoa Kỳ và Nhật Bản, trong một nỗ lực mà nhiều nhà phân tích nói là để ứng phó với sự gia tăng nhanh chóng của sức mạnh quân sự của Trung Quốc, đặc biệt là đối với những hành động có tính chất kịch liệt của Bắc Kinh liên quan tới các yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.

Nguồn: Economic Time, PVN.com

Về chuyến đi của Việt Kiều ra Trường Sa

Về chuyến đi của Việt Kiều ra Trường Sa

Cập nhật: 10:12 GMT - thứ sáu, 2 tháng 5, 2014
Hải trình 3 đưa khách Việt Kiều ra cả một số nhà giàn ở Biển Đông
Nhà báo Lý Kiến Trúc từ California nói chuyến đi Nhà nước Việt Nam tổ chức đưa Việt Kiều thăm quần đảo Trường Sa trước dịp kỷ niệm 30/4 có mục tiêu 'hòa hợp hòa giải dân tộc'.
Trả lời BBC hôm 2/5/2014, sau chuyến đi với gần 200 khách gồm có cả nhiều Việt Kiều từ Hoa Kỳ và một số nước khác ra Trường Sa, ông nói:
“Họ muốn tạo ra Hải trình 3 này là để muốn gióng lên một tiếng chuông mới, mở ra một trang sử mới, khép lại một trang sử đau buồn của VN cũ, đánh dấu một giai đoạn hòa hợp hòa giải dân tộc.”
Ông Lý Kiến Trúc, người phụ trách Câu lạc bộ Văn hóa và Truyền thông tại quận Cam, Nam California mô tả:
"Phái đoàn đã đi khoảng 10 hòn đảo khác nhau, xa nhất là đảo Song Tử Tây, cách bờ 800 km,
Trên đường vòng về đất liền chúng tôi đã thăm chừng 10 hòn đảo nữa, gồm cả các đảo đá chìm nhưng đã được đổ bê-tông cốt sắt thành các cứ điểm,
Duy nhất chỉ đảo Trường Sa Lớn có vài hộ dân, có cả trẻ em, rất dễ thương, còn các đảo khác chỉ là những cứ điểm quân sự."
""Lữ đoàn 146 và Chiến hạm HQ571 lo lắng tận tình cho khách trên tàu, không có điều gì đáng phàn này cả"
Ông Lý Kiến Trúc
Nói về chuyến đi, ông cho hay hải trình lần này "êm ả, từ Cát Lái ra Vũng Tàu rồi ra Trường Sa, biển êm, có lúc phẳng lỳ".
Trước câu hỏi về sinh hoạt của dân và các lực lượng quân sự Việt Nam trên các hòn đảo, nhà giàn ngoài Biển Đông mà ông chứng kiến trong chuyến ra biển, ông Lý Kiến Trúc nói:
"Thực ra, sinh hoạt không vất vả, chế độ ăn uống, thực phẩm của họ đầy đủ, không vất vả lắm. Binh lính nuôi gà, nuôi vịt, trồng rau nữa,
"Sự kham khổ là sự hy sinh lâu dài. Có thủy thủ, binh lính đóng một năm mới được về thăm nhà,
Ông Lý Kiến Trúc (trái), và Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn
"Họ rất trẻ nhưng có thái độ rất rõ ràng, dứt khoát để bảo vệ tổ quốc."
Trước câu hỏi ông có biết về các vụ 'tàu lạ xâm nhập' vào vùng biển Việt Nam hay không, ông Lý Kiến Trúc nói ông chỉ có thể mô tả những gì ông thấy về việc phòng thủ:
"Phòng thủ rất mạnh, có giao thông hào chằng chịt ngoài bờ biển, súng lớn cũng có,
"Ngoài ra, ven bờ các đảo có cột chống xâm nhập, như cọc Bạch Đằng để bảo vệ đảo."
Trước những lời phê phán có phải ông tham gia một chiến dịch tuyên truyền cho chính quyền Việt Nam, ông Lý Kiến Trúc giải thích:
"Tôi khá bất ngờ khi nhận được lời mời từ ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn về chuyến đi thăm Trường Sa,
"Nhưng tôi không phổ biến tin này để tránh hiểu lầm."
Ông nói ông đã bay về Việt Nam vào phút chót và đã giao kết với ban tổ chức rằng ông đi với tư cách một nhà báo độc lập, một nhà nghiên cứu về Biển Đông.
Trong một thông cáo báo chí đã công bố, ông Lý Kiến Trúc viết: "Trong vai trò đó, tôi không đồng hành về tư tưởng, quan điểm chính trị, hoặc những phát biểu của một vài người ở nam Cali đi trong phái đoàn."
"Tôi muốn được nhìn tận mắt an ninh, tiềm năng kinh tế, yếu tố chủ quyền trên các hòn đảo đó", ông nói với BBC qua điện thoại từ Sài Gòn.
Tuy thế, ông Lý Kiến Trúc cũng thừa nhận rằng:
"Ở Nam Cali có những sự ồn ào về chuyến đi, có những người bạn của tôi nói họ sững sờ về chuyến đi của tôi."
"Cuối tháng Năm tôi sẽ mở cuộc họp báo để tường trình với quý vị về chuyến đi."
Trực thăng của Việt Nam đáp xuống một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa
Trước câu hỏi về chủ đề 'hòa hợp hòa giải dân tộc" ông nói, "Hải trình 3 là một cái mốc tiến tới hòa hợp hòa giải dân tộc là điều tốt. Tuy nhiên, vấn đề còn là thời gian".
Được biết đây là chuyến thăm thứ ba Nhà nước Việt Nam tổ chức cho người Việt ở nước ngoài ra Trường Sa từ 16/4 tới 28/4.
Trong khuôn khổ chuyến đi, đã có một lễ cầu siêu cho các liệt sỹ của cả miền Bắc lẫn Việt Nam Cộng hòa đã tử trận để bảo vệ Trường Sa - Hoàng Sa.

Thêm về tin này

Từ chiến tranh du kích đến sân gôn : Sự chuyển đổi của quân đội Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ

Từ chiến tranh du kích đến sân gôn : Sự chuyển đổi của quân đội Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ

Quân đội Việt Nam thời nay.
Quân đội Việt Nam thời nay.
Reuters

Thụy My
Từ hoạt động du kích với những tình nguyện quân trang bị vũ khí thủ công, đến việc quản lý các tập đoàn viễn thông hay sân gôn, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nay trở thành sức mạnh to lớn trong nền kinh tế của đất nước cộng sản, đã thay đổi hẳn bộ mặt 60 năm sau chiến thắng trước Pháp tại Điện Biên Phủ.

Thiếu tướng Vũ Quang Đạo, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam nhớ lại : « Chúng tôi hồi đó chẳng có gì cả : súng ống và chất nổ tự tạo, và những quả mìn chống tăng thô sơ cho đến nỗi nhiều khi sát hại ngay chính người lính đánh mìn ». Chiến thắng Điện Biên Phủ « là một chiến thắng của sự ngoan cường » - ông giải thích với hãng tin Pháp AFP như trên, vào thời điểm chỉ vài ngày nữa là đến dịp kỷ niệm thất bại nổi tiếng của quân đội Pháp trước các chiến binh Việt Minh, ngày 07/05/1954.
Việt Nam ngày nay là một trong những quốc gia Đông Nam Á dành nhiều tiền bạc nhất để phát triển quân đội của mình, chủ yếu là do cuộc xung đột lãnh thổ với Bắc Kinh tại Biển Đông.
Jon Grevatt, chuyên gia về kỹ nghệ quốc phòng tại châu Á-Thái Bình Dương của cơ quan phân tích IHS Jane’s bình luận : « Việc mua các hệ thống thiết bị quân sự hiện đại của Việt Nam tăng lên với mức độ chóng mặt. Vấn đề là phải đảm bảo an ninh lãnh thổ và các lợi ích trên Biển Đông, nhất là các mỏ dầu khí ngoài khơi ».
Khi mua các thiết bị quân sự như thế, chủ yếu là của Nga, và qua việc nhân lên các quan hệ hợp tác chiến lược từ Đức cho đến Hàn Quốc, quân đội Việt Nam đang « chuyên nghiệp hóa », theo ông Grevatt. Theo ước tính của IHS Jane’s, ngân sách quốc phòng dành cho việc mua thiết bị lên đến trên 910 triệu euro trong năm 2014. Nhưng do thiếu minh bạch trong lãnh vực này, số tiền trên còn có thể cao hơn.
Trong ba mươi năm sau này, quân đội Việt Nam còn đầu tư vào kinh doanh, với một hệ thống doanh nghiệp có sức nặng đáng kể.
Quân đội luôn là « một lực lượng chính trị chủ yếu ở Việt Nam », nhưng với các cải cách kinh tế đưa ra vào cuối thập niên 80, « giới quân nhân bắt đầu đóng một vai trò tích cực trong nền kinh tế thị trường » - giáo sư Jonathan London thuộc trường City University của Hồng Kông khẳng định. Ông giải thích : « Bản thân quân đội cũng như các quân nhân cũng đã có thể hưởng lợi từ việc được ưu tiên cấp đất, cấp vốn », bên cạnh vị trí ưu đãi để thắng thầu ».
Quân đội cũng sở hữu nhiều khách sạn, sân gôn, các kênh truyền hình, báo chí, và ngay cả một công ty viễn thông hàng đầu là Viettel hiện đã vươn tay ra đến nước ngoài, từ Cam Bốt láng giềng đến Haiti.
Theo với những thập kỷ chiến đấu ở Việt Nam, các quân nhân có được những khu đất rộng rãi, mà cách sử dụng gây nhiều tranh cãi. Việc xây dựng một sân gôn trên đất quân sự gần sân bay Tân Sơn Nhất ở Saigon cũng bị phản đối. Huỳnh Đăng, một cư dân chỉ trích trên tờ Thanh Niên : « Sân gôn này xây lên để phục vụ cho các đại gia và quan chức tham nhũng hay chăng? Các công dân bình thường không thể nào có điều kiện chơi gôn ».
Đa dạng hóa nền kinh tế mang lại cho quân đội hàng trăm triệu đô la mỗi năm, theo ông Carl Thayer, thuộc trường đại học New South Wales của Úc. Và các doanh nghiệp quân đội thu dụng nhiều cựu binh và thân nhân bộ đội, là một lực lượng vận động hậu trường rất mạnh, trong đất nước độc đảng mà ảnh hưởng của quân đội vẫn rất lớn.
Cho dù việc mua thiết bị tăng lên, tầm vóc quân đội lại thu nhỏ bớt, từ 1,2 triệu quân vào cuối thập niên 80 xuống còn dưới 600.000 quân hiện nay, trong một đất nước có 90 triệu dân. Giáo sư Thayer nhấn mạnh, tuy vậy còn phải tính thêm 5 triệu quân dự bị.
Đối mặt với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc, Việt Nam ngày nay đang trong một tình trạng có thể so sánh với thời kỳ chiến tranh chống quân đội thực dân Pháp trong thập niên 50, cũng như « David chống lại Goliath » - giáo sư Thayer ví von. Ông khẳng định : « Goliath trấn ở đó, xây dựng các lá chắn và tàu chiến lớn hơn. Nhưng người Việt lại có nhiều khẩu súng cao su tốt ».
TAGS: QUÂN ĐỘI - VIỆT NAM - ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách châu Á đến Hà Nội vào tuần tới

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách châu Á đến Hà Nội vào tuần tới

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel (www.state.gov)
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel (www.state.gov)

Trọng Nghĩa
Bộ Ngoại giao Mỹ vào hôm qua 02/05/2014 thông báo : Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Đông Á Thái Bình Dương Daniel Russel sẽ dẫn đầu một phái đoàn Mỹ ghé Hà Nội trong hai ngày 07-08/05. Mục tiêu được loan báo là tham gia cuộc họp của cơ chế Đối thoại Mỹ-Việt vùng Châu Á-Thái Bình Dương. Giới quan sát cho rằng vấn đề Biển Đông chắc chắn sẽ được hai bên thảo luận.

Trong bản thông cáo báo chí ngắn gọn về chuyến công du Việt Nam của ông Russel, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết thêm là Trợ lý Ngoại trưởng sẽ tiếp xúc với các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam, đồng thời giao lưu với các cựu sinh viên từng tham gia các chương trình trao đổi cấp chính phủ.
Theo giới quan sát, chuyến công du Việt Nam của người trực tiếp nắm hồ sơ Đông Nam Á tại Bộ Ngoại giao Mỹ diễn ra chỉ ít lâu sau khi đích thân Tổng thống Mỹ Barack Obama đến thăm hai nước Đông Nam Á khác là Malaysia và Philippines.
Điều này phản ánh mối quan tâm của Hoa Kỳ đối với khu vực Đông Nam Á, đặc biệt trong bối cảnhlãnh đạo 10 quốc gia trong khối ASEAN chuẩn bị họp Hội nghị Thượng đỉnh tại Miến Điện trong hai ngày 10-11/05.
Trong thời gian qua, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Châu Á – Thái Bình Dương đã không ngần ngại có những lời lẽ rất cứng rắn đối với các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông, nêu bật một số hành vi sách nhiễu của Trung Quốc nhắm vào Philippines chẳng hạn, đặc biệt là tại hai bãi ngầm đang tranh chấp là Scarborough và Second Thomas ngoài Biển Đông.
Ví dụ cụ thể nhất là bản điều trần của ông Daniel Russel trước Tiểu ban Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ ngày 05/02 vừa qua, trong đó ông đã cảnh cáo Trung Quốc về những yêu sách lãnh thổ đáng quan ngại ở Biển Hoa Đông và Biển Đông.
Về Biển Đông, ông Russel là một nhà ngoại giao Mỹ hiếm hoi công khai phê phán tính chất không phù hợp với luật pháp quốc tế của tấm bản đồ « Chín đường gián đoạn » mà Trung Quốc sử dụng để đòi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông.
Ông cũng đã chỉ trích các quy định mới đây của Trung Quốc về đánh đánh bắt cá trên một phần Biển Đông, và cảnh cáo Bắc Kinh về ý đồ muốn thiết lập một vùng nhận dạng phòng không mới trên Biển Đông.
TAGS: HOA KỲ - QUỐC TẾ - VIỆT NAM

Philippines có thể sẽ cho quân đội Mỹ sử dụng năm căn cứ quân sự

Philippines có thể sẽ cho quân đội Mỹ sử dụng năm căn cứ quân sự

Tuần dương hạm Mỹ USS Texas neo đậu bên cạnh tàu tiếp liệu cho tàu ngầm USS Emory S.Land tại vịnh Subic. Ảnh chụp ngày 10/11/2011.
Tuần dương hạm Mỹ USS Texas neo đậu bên cạnh tàu tiếp liệu cho tàu ngầm USS Emory S.Land tại vịnh Subic. Ảnh chụp ngày 10/11/2011.
REUTERS/U.S. Navy

Trọng Nghĩa
Sau khi Thỏa thuận Tăng cường Hợp tác Quốc phòng Mỹ-Philippines được ký kết, Manila và Washington đang thương thuyết về những điểm cụ thể. Theo trưởng đoàn đàm phán Philippines vào hôm qua, 02/05/2014, nước này có thể mở cửa ít ra là năm căn cứ quân sự của mình cho phía Mỹ sử dụng trong việc luân chuyển phi cơ, tàu bè, thiết bị và binh lính. Sự hiện diện được tăng cường của lực lượng Mỹ được cho là sẽ góp phần giúp Manila kháng lại sức ép của Bắc Kinh.

Phát biểu trong một cuộc họp báo tại Manila, ông Pio Lorenzo Batino, thứ trưởng Bộ Quốc phòng Philippines, cho biết : « Ngay từ bây giờ, nội dung các cuộc thảo luận sẽ xoay quanh số lượng từ ba đến năm căn cứ quân sự ». Theo ông, đó chỉ là khởi điểm của cuộc thương thuyết dự trù sẽ kết thúc chậm nhất là vào ngày 30 tháng Chín.
Trưởng đoàn đàm phán Philippines tuy nhiên chỉ tiết lộ hai nơi có thể sẽ được mở cửa cho quân đội Mỹ, một là cơ sở huấn luyện chiến đấu trong rừng rậm tại Fort Magsaysay, phía bắc Manila, nơi mà quân đội hai bên thường chọn để tổ chức các cuộc tập trận chung, và một phần căn cứ hải quân Subic, vốn dĩ là cơ sở của Mỹ tại Philippines cho đến đầu thập niên 1990. Ba căn cứ còn lại không được ông Batino tiết lộ.
Tuy vậy, theo báo chí Philippines, một số nguồn tin quân sự thông thạo đã cho biết là phía Mỹ còn yêu cầu được sử dụng các căn cứ cũ trước đây của họ tại Philippines : Sân bay quân sự, căn cứ hải quân Subic Bay, căn cứ không quân Wallace tại mũi Poro Point và Trại Aguinaldo tại Manila, hiện là tổng hành dinh quân đội Philippines.
Bên cạnh đó, phía Mỹ đang xem xét khả năng đòi quyền tiếp cận 4 phi trường dân sự tại Philippines là Palawan, Cebu, General Santos và Laoag, cũng như sân bay Batanes. Những cơ sở dân sự này sẽ được dùng vào việc tiếp liệu và cung ứng dịch vụ khẩn cấp khi cần thiết. Ngoài ra, còn có các căn cứ quân sự gần Cebu và Palawan.
Các giới chức quân sự và quốc phòng cho rằng với Thỏa thuận Tăng cường Hợp tác Quốc phòng vừa ký với Mỹ vào đầu tuần, năng lực phòng thủ của Philippines đã được nâng cao vào lúc Manila đang bị Bắc Kinh chèn ép về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông.
Sự tăng cường hợp tác quốc phòng Mỹ-Philippines cũng được thảo luận ở Mỹ trong khuôn khổ chuyến ghé thăm của Phó Tổng thống Philippines Jejomar Binay.
Vào hôm qua, tại Lầu Năm Góc, Phó Tổng thống Philippines đã có cuộc họp với Quyền Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Christine H. Fox để thảo luận thêm về việc tăng cường quan hệ quốc phòng song phương và các vấn đề an ninh khu vực.
Theo một phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Mỹ, phía Washington nhân dịp này đã nhắc lại cam kết giúp Manila phát triển năng lực giám sát và bảo đảm an ninh trên các vùng biển Philippines.
TAGS: CHÂU Á - HOA KỲ - PHILIPPINES - QUÂN SỰ - QUỐC TẾ