Thursday, June 29, 2017

Anh trao lại Hong Kong cho Trung Quốc thế nào?

Anh trao lại Hong Kong cho Trung Quốc thế nào?

  • 7 giờ trước
Biển hiểu đánh dấu 20 năm kể từ ngày Anh trao lại Hong Kong cho Trung Quốc.Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionBiển hiệu đánh dâu 20 năm kể từ ngày Anh trao lại Hong Kong cho Trung Quốc
Vào ngày 1 tháng Bảy, Hong Kong đánh dấu 20 năm ngày Anh trao lại Hong Kong cho Trung Quốc.
Những thứ cần biết:
Điều gì dẫn tới việc bàn giao?
Anh tiếp quản đảo Hong Kong vào năm 1842, sau khi đánh bại Trung Quốc trong Chiến tranh Nha phiến Thứ Nhất.
Vào năm 1898, để kiểm soát vùng lãnh thổ này, Anh đã cho thuê các vùng lãnh thổ phụ thêm, với cam kết sẽ trả lại cho Trung Quốc sau 99 năm.
Thống đốc Chris Patten trong lễ hạ cờ Anh để về nước năm 1997Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionThống đốc Chris Patten trong lễ hạ cờ Anh để về nước năm 1997
Hong Kong phát triển nhanh chóng trong giai đoạn Anh nắm quyền và trở thành một trong những trung tâm kinh doanh và tài chính lớn nhất thế giới.
Vào năm 1982, London và Bắc Kinh bắt đầu một quá trình đàm phán khó khăn về việc Trung Quốc nhận lại Hong Kong.
Hong Kong đã phát triển một hệ thống kinh tế và chính trị khác xa với Trung Quốc đại lục, nơi kể từ năm 1949 nằm dưới quyền kiểm soát của nhà nước Cộng sản độc đảng và chuyên quyền.
Nhất trí được gì cho tương lai Hong Kong?
Dinh Thống đốc Hong KongBản quyền hình ảnhTOMMY CHENG/GETTY IMAGES
Image captionTiệc tối có dàn quân nhạc chơi bài 'Lui Quân' (Beat the Retreat) tại Dinh Thống đốc cuối cùng của Hong Kong tại thuộc địa Anh năm 1997 để chia tay ông Chris Patten về nước
Trung Quốc đồng ý cai quản Hong Kong theo nguyên tắc "một đất nước, hai hệ thống", nơi thành phố này sẽ hưởng "một mức độ tự trị cao, trừ các vấn đề về quốc phòng và ngoại giao" cho 50 năm sau.
Hong Kong trở thành Đặc khu Hành chính. Điều này có nghĩa là Hong Kong:
  • có hệ thống pháp luật riêng
  • đa đảng
  • có các quyền như tự do ngôn luận và tự do hội họp
Lãnh thổ này có hiến pháp mini có quy định những đặc quyền này.
Luật cơ bản Hong Kong nói "mục đích cuối cùng" là để bầu ra lãnh đạo lãnh thổ này, trưởng đặc khu, "thông qua bầu cử và tuân theo các qui trình dân chủ".
Hong Kong được cai quản thế nào bây giờ?
Lãnh đạo là trưởng đặc khu được bầu lên bởi một ủy ban 1200 thành viên. Đa số thành viên của ủy ban này được xem là thân Bắc Kinh.
Quốc hội là Hội đồng Lập pháp, được lập ra với phân nửa là đại diện được bầu trực tiếp và phân nửa là đại diện do các nhóm chuyên trách hoặc các nhóm đặc quyền.
Các nhà hoạt động chính trị biện luận rằng quá trình bầu cử cho Bắc Kinh khả năng lọc bỏ các ứng viên mà họ không chấp nhận.
Tại sao có các cuộc phản đối?
Các nhà hoạt động cho dân chủ đã và và đang vận động nhiều năm để người dân Hong Kong có quyền bầu lãnh đạo của họ.
Nhiều năm qua đã có các cuộc biểu tình và đụng độ với cạnh sát.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNhiều năm qua đã có các cuộc biểu tình và đụng độ với cảnh sát
Vào năm 2014, Bắc Kinh nói họ sẽ cho phép bầu cử trực tiếp trưởng đặc khu, nhưng chỉ từ danh sách ứng viên đã được chuẩn thuận trước.
Động thái này dẫn tới các cuộc phản đối qui mô từ những người muốn có dân chủ trực tiếp và toàn diện.
Các cuộc biểu tình làm tê liệt nhiều khu vực trung tâm thành phố trong nhiều tuần nhưng sau đó nguội dần.
Cũng có nhiều người quan ngại Trung Quốc ngày càng can dự vào chính trị Hong Kong theo nhiều cách và làm ảnh hưởng tiêu cực tới truyền thống tự do chính trị.
Vì vậy Hong Kong ngày càng bị chia ra thành một phe thân Bắc Kinh với thêm tiếng nói ủng hộ Đảng Cộng sản Trung Quốc và một phe ủng hộ dân chủ và muốn tăng quyền tự trị của Hong Hong và đặt tính riêng.
Các lần kỷ niệm bàn giao Hong Kong lại cho Trung Quốc luôn có các cuộc biểu tình lớn từ cả hai phe xung khắc về quan điểm chính trị.
Điều gì sẽ xảy ra sau 2047?
Đó là mốc sau đó Trung Quốc lục địa không có trách nhiệm phải cho Hong Hong tự trị theo những gì mà Bắc Kinh đã thỏa thuận với London trước đây.
Tương lai Hong Kong bất định sau 2047Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionTương lai Hong Kong bất định sau 2047
Trong khi có một số tiếng nói kêu gọi cho Hong Kong hoàn toàn độc lập, Trung Quốc đã loại bỏ sự lựa chọn này.
Những khả năng có thế xảy ra là:
Trung Quốc gia hạn cho quyền tự trị hiện tại và Luật Cơ bản
Trung Quốc sẽ cho phép một số đặc quyền hiện nay nhưng không phải tất cả.
Hong Kong sẽ mất qui chế đặc biệt hiện nay và trở thành một tỉnh của Trung Quốc và mất quyền tự trị.
Với thế hệ trẻ ngày càng quan tâm tới chính trị, hầu hết các nhà quan sát trông đợi những diễn biến chính trị mạnh mẽ cho tương lai của thành phố này.

Tin liên quan

Chiến tranh với Việt Nam 1979: Trung Quốc rút ra bài học gì?

Chiến tranh với Việt Nam 1979: Trung Quốc rút ra bài học gì?

  • 2 tháng 5 2017
Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đón tiếp Đặng Tiểu Bình tại Washington tháng Giêng 1979Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Mỹ Jimmy Carter đón tiếp Đặng Tiểu Bình tại Washington tháng Giêng 1979
BBC có cuộc phỏng vấn với một học giả gốc Trung Quốc nói về cuộc chiến của Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam năm 1979.
Tiến sĩ Xiaoming Zhang, từ trường Air War College, Hoa Kỳ, là tác giả cuốn sách Deng Xiaoping's Long War: The Military Conflict between China and Vietnam 1979-1991, ra mắt năm 2015.
Trong nghiên cứu này, ông đánh giá cuộc chiến nhìn từ quan điểm của giới lãnh đạo Trung Quốc.
Xiaoming Zhang: Dĩ nhiên, không sử gia nào bên ngoài Trung Quốc được tiếp cận trọn vẹn hồ sơ chiến tranh của Trung Quốc. Nhưng vẫn có nhiều nguồn Trung Quốc để giới sử gia được tìm hiểu cuộc chiến 1979 từ góc nhìn của Trung Quốc.
Ví dụ, có các báo cáo sau trận đánh của Quân Giải phóng Nhân dân, chứa đựng thông tin chi tiết về cách họ chuẩn bị, vận hành chiến tranh, cũng như thương vong họ chịu và số người họ giết. Các báo cáo này có thể không hoàn toàn chính xác vì lẫn lộn trong lúc đánh nhau, hay tổn thương trí nhớ vì sốc. Nhưng chúng vẫn có giá trị cho người viết sử.
Để so sánh, có vẻ như chính ra ở phía Việt Nam lại vẫn còn nhiều 'huyền thoại' về chiến tranh 1979. Ví dụ, ở tầm mức chiến lược, vì sao Lê Duẩn nghĩ Trung Quốc là kẻ thù số một sau chiến tranh Việt Nam? Ở mức thực tế, quân đội Việt Nam đánh giá cách đánh của họ thế nào trong chiến tranh? Tôi có đọc một số lịch sử quân sự Việt Nam và thấy chúng không khách quan, muốn định hình lịch sử có lợi cho họ mà ít dữ liệu thực tiễn.
BBC:Từ góc nhìn của Trung Quốc, vì sao Đặng Tiểu Bình muốn khởi chiến năm 1979?
Chương hai trong cuốn sách của tôi trả lời câu hỏi này. Có nhiều nguyên do thúc đẩy Đặng tiến hành chiến tranh chống Việt Nam.
Nguyên do trước tiên và quan trọng nhất là cách Đặng phản ứng trước đe dọa của Liên Xô với Trung Quốc khi đó. Liên minh của Hà Nội với Moscow khiến Đặng tin rằng đe dọa của Liên Xô không chỉ từ phía bắc mà cả từ phía nam.
Sự tính toán của Đặng cũng xảy ra vào lúc ông ấy ngày càng lo ngại về sự sụt giảm sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trong vùng và trên thế giới sau Chiến tranh Việt Nam. Yếu tố Liên Xô thúc Đặng tìm kiếm hợp tác chiến lược với Mỹ chống Moscow. Vì chính sách này nhấn mạnh đối đầu, nên tiếp cận của Bắc Kinh trước khủng hoảng quốc tế trong vùng trở nên cứng rắn và mang tính quân sự. Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng tấn công trừng phạt Việt Nam sẽ là cú đòn đánh vào chiến lược bành trướng toàn cầu của Liên Xô.
Rốt cuộc có lẽ Trung Quốc đã phản ứng thái quá trước đe dọa của Liên Xô. Nhưng vào lúc đó, Đặng Tiểu Bình thực sự tin vào nó.
Còn có những yếu tố khác tác động quyết định gây chiến của Đặng, gồm chính trị trong nước và quan hệ với Mỹ. "Hành vi sai trái" của Việt Nam, đặc biệt là liên minh với Liên Xô, làm người Trung Quốc giận dữ. Họ muốn trừng phạt đồng minh phản bội sau nhiều năm Trung Quốc phải hy sinh giúp đánh Mỹ.
Các va chạm biên giới cũng khích động tình cảm người Trung Quốc. Yếu tố tình cảm đóng vai trò quan trọng để tạo nên sự đồng thuận trong giới lãnh đạo chính trị và quân sự ủng hộ Đặng gây chiến.
Quyết định đánh Việt Nam chủ yếu do đánh giá về tình hình chiến lược của Trung Quốc, nhấn mạnh liệu sự bành trướng của Liên Xô có tác động gì cho an ninh thế giới, và Trung Quốc cần có trách nhiệm gì để duy trì cân bằng quyền lực đại cường. Đặng tin rằng liên minh với phương Tây sẽ chứng tỏ Trung Quốc có giá trị trong cuộc đấu tranh chống Liên Xô bành trướng và rằng để đổi lại, phương Tây sẽ giúp Trung Quốc cải tổ kinh tế.
Ngoài ra, đấu tranh quyền lực trong đảng, cộng thêm phe nhóm trong quân đội, cũng khiến Đặng càng sẵn sàng có hành động quân sự chống Việt Nam. Theo ông ta, làm thế sẽ khuấy động ủng hộ trong nước và nước ngoài, tạo nên môi trường an toàn và ổn định để Trung Quốc hiện đại hóa.
Cuối cùng, tính cách và cách lãnh đạo độc tài của Đặng cũng đóng vai trò lớn.
Không có một nguyên do duy nhất giải thích. Khi kết hợp toàn bộ các yếu tố, dù chúng có lý hay không, Đặng Tiểu Bình tin rằng việc dùng vũ lực khi đó là cần thiết. Vì thế cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 trở nên tất yếu.
BBC: Theo đánh giá của ông, ai đã thắng cuộc chiến ngắn ngày này?
Chiến tranh xảy ra nhằm đạt những mục tiêu chính trị nào đó. Vậy Bắc Kinh đề ra mục tiêu gì?
Công khai thì Trung Quốc nói chiến tranh nhằm dạy cho Việt Nam "bài học". Nhiều người tưởng rằng "trừng phạt" là mục tiêu, để rồi kết luận thương vong nặng nề của Trung Quốc tức là họ đã không đạt được mục tiêu dạy cho Việt Nam "bài học".
Ông Lý Bằng là Thủ tướng Trung Quốc đầu tiên thăm Việt Nam sau 21 năm, vào năm 1992Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionÔng Lý Bằng là Thủ tướng Trung Quốc đầu tiên thăm Việt Nam sau 21 năm, vào năm 1992
Trong sách, tôi không tán thành ý này. Đối với Đặng, dạy Việt Nam "bài học" là thông điệp không chỉ gửi cho Việt Nam mà cả cho Liên Xô, Mỹ và các nước phương Tây. Phản ứng của Việt Nam trước cuộc xâm lược là phòng thủ biên giới phía bắc, tiếp tục chính sách thù địch với Trung Quốc, dựa vào Liên Xô để có hỗ trợ tài chính và kinh tế. Để đáp lại, Mỹ và phương Tây từ 1979 có vẻ quan tâm hơn việc cung cấp hỗ trợ tài chính và công nghệ giúp Trung Quốc cải cách kinh tế. Mỹ không còn nghĩ Trung Quốc là đe dọa, tuy chưa phải là đồng minh. Vì thế Mỹ có thể dốc toàn lực để đánh bại Liên Xô trong thập niên cuối cùng của Chiến tranh Lạnh.
Bên trong Trung Quốc, Đặng không chỉ củng cố được quyền lực chính trị mà cũng thực hiện cả nghị trình cải tổ kinh tế.
Liên Xô ở trong tình thế nhiều khó khăn trong thập niên cuối của Chiến tranh Lạnh. Vừa phải cạnh tranh với Mỹ trên toàn cầu, Moscow cũng đối diện thách thức của Trung Quốc ở châu Á. Từ góc nhìn chiến lược, cả Việt Nam và Liên Xô đều gặp khó khăn hơn Trung Quốc. Vì thế Liên Xô rốt cuộc nhận ra họ không thể tiếp tục hỗ trợ Việt Nam vào cuối thập niên 1980. Việt Nam phải tìm đến Trung Quốc, thừa nhận sai lầm chính sách từ 1978.
Rốt cuộc, Trung Quốc đã vượt mặt Việt Nam cả về chính trị và chiến lược.
Nói về hiệu quả trên chiến trường, Trung Quốc rút quân sau khi đạt được các mục tiêu chính - bao vây ba thành phố cấp tỉnh của Việt Nam, gây thương vong nặng nề cho bộ đội Việt Nam, gây thiệt hại lớn cho nhà cửa. Quân Trung Quốc đúng là cũng bị thương vọng nặng trong cuộc chiến ngắn ngày, nhưng kết quả đó có thể chấp nhận được cho lãnh đạo Trung Quốc.
Nhưng tôi không tin rằng bộ đội Việt Nam chiến đấu tốt hơn quân Trung Quốc. Vấn đề thực sự là chúng ta vẫn không có đủ dữ kiện từ phía Việt Nam.
Để kết luận, cuộc chiến này cần được đánh giá dựa theo kết quả của chiến tranh, chứ không phải kết quả từ các trận đánh.
BBC:Trong con mắt lãnh đạo Trung Quốc, đâu là bài học từ cuộc chiến 1979? Nó có còn thích hợp cho chiến lược của Trung Quốc trong tương lai?
Sau cuộc chiến 1979, Quân Giải phóng Nhân dân đánh giá toàn diện về hiệu quả trên chiến trường, với nhiều bài học rút ra.
Trong đó có việc thiếu tin tức tình báo, không có đủ quân do xuất hiện thêm dân quân Việt Nam tham gia đánh nhau, hợp tác và phối hợp kém giữa đơn vị bộ binh, pháo binh, xe tăng, hệ thống hỗ trợ hậu cần và chỉ huy tác chiến lạc hậu.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp đoàn quân Việt Nam trở về từ Campuchia hôm 28/9/1989Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionĐại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp đoàn quân Việt Nam trở về từ Campuchia hôm 28/9/1989
Các bài học này xác nhận lo ngại của Đặng về khả năng tác chiến hiện đại của Trung Quốc trong tương lai gần.
Sau 1979, Quân Giải phóng Nhân dân bắt đầu cải tổ nhằm gia tăng khả năng tiến hành chiến tranh lớn trước đối thủ lớn hơn như Liên Xô.
Từ 1985, Bắc Kinh không còn nghĩ rằng chiến tranh với Liên Xô sẽ phải xảy ra. Các va chạm biên giới khiến lãnh đạo Trung Quốc tin rằng quân đội cần tập trung chiến thắng các cuộc chiến địa phương quanh biên giới Trung Quốc trong điều kiện công nghệ cao. Việc này vẫn tiếp tục trong viễn kiến chiến lược hiện nay của Trung Quốc.
Trung Quốc sẽ không bao giờ có một cuộc chiến như 1979, tức là chỉ liên quan bộ binh. Nhưng các bài học từ 1979 vẫn thích hợp cho Quân Giải phóng Nhân dân.
Trong tương lai, nếu Trung Quốc có chiến tranh để bảo vệ lãnh thổ như Đài Loan và trên Biển Đông, Quân Giải phóng Nhân dân sẽ dùng mọi lực lượng từ không quân, hải quân, bộ binh, chiến tranh mạng, không gian.
Tôi không nghĩ là Trung Quốc trong tương lai sẽ lại dùng vũ lực chống láng giềng như 1979. Việc hiểu cuộc xâm lược Việt Nam 1979 chỉ có ý nghĩa nếu ta nghiên cứu nó trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh.
BBC: Người dân Trung Quốc nhớ hay quên cuộc chiến 1979?
Khó mà trả lời toàn diện. Năm 1991, Bắc Kinh và Hà Nội có vẻ đã ngầm thỏa thuận để cấm hai nước công khai nói về cuộc chiến.
Khi mà các mạng xã hội phát triển nhanh như gần đây, sự cấm đoán này không còn chỗ. Mạng xã hội cho phép cựu quân nhân và thành viên gia đình liên hệ với nhau.
Nhiều câu chuyện cá nhân thời chiến, ký ức chiến tranh đã có trên mạng. Một số thậm chí được truyền thông chính thống công bố.
Những năm gần đây, vào ngày 17/2 và Tết Thanh Minh tháng Tư, hàng trăm, hàng ngàn người tự tổ chức để tới các nghĩa trang chiến tranh 1979 ở Quảng Tây và Vân Nam, tổ chức lễ tưởng nhớ những người hy sinh trong chiến tranh.
Suốt nhiều năm, các cựu quân nhân 1979 là nhóm xã hội ít ai quan tâm. Năm ngoái, sau nhiều cuộc biểu tình của họ, mới có các quy định mới của chính phủ tăng hỗ trợ cho cựu binh, mở rộng phạm vi hỗ trợ cho những người không được hưởng trước đây.
Có một hiện tượng xã hội là nhiều người Trung Quốc dùng cuộc chiến 1979 để bình luận về các vấn đề lãnh thổ hiện nay giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Từ quan điểm chính thức của Bắc Kinh, có lẽ chẳng nên nhớ tới cuộc chiến. Nó không phù hợp với chủ điểm chính về Trung Quốc của Tập Cận Bình, là về ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội.
Chừng nào thế hệ tham chiến còn sống, kỷ niệm về chiến tranh sẽ không bị người Trung Quốc lãng quên.

Tin liên quan