Showing posts with label Tuan VN. Show all posts
Showing posts with label Tuan VN. Show all posts

Tuesday, December 9, 2014

Vũ khí dầu mỏ của Nga, vũ khí bí mật của Mỹ

Vũ khí dầu mỏ của Nga, vũ khí bí mật của Mỹ

Năm 2014, tưởng chừng sau khi sáp nhập bán đảo Crimea, "vũ khí dầu mỏ và khí đốt" cũng sẽ được Nga vận dụng hữu hiệu.
Vũ khí dầu mỏ của Nga
Chúng ta vốn quen với những cách nói "nếu Nga cắt khí đốt, châu Âu sẽ chết rét", "Nga dọa cắt khí đốt cung cấp cho châu Âu vào thời điểm mùa đông đang đến gần..." Điều đó thông thường là đúng: Châu Âu năm 2012 mua của Nga 24% tổng lượng khí đốt tiêu thụ (xem hình 6, nguồn Eurogas).
"Vũ khí dầu mỏ và khí đốt" như thế đã trở thành vũ khí đối ngoại quen thuộc thường được Nga sử dụng khi có những bất đồng với châu Âu, nhất là trong một số sự kiện liên quan đến an ninh khu vực như cuộc xung đột Nga - Gruzia (2008), với tình hình chính trị và khả năng gia nhập EU và NATO của nước láng giềng Ucraina...
Nga, dầu mỏ, Liên Xô, dầu mỏ, khí đốt, Ukraine, Crimea, Mỹ, chiến tranh, Putin, GDP
Hình 6
Năm 2014, tưởng chừng sau khi sáp nhập bán đảo Crimea, "vũ khí dầu mỏ và khí đốt" cũng sẽ được Nga vận dụng hữu hiệu, nhưng lần này không chỉ bất ngờ với Nga mà với toàn thế giới, chính vũ khí ấy dường như lại quay lại chống lại nước Nga.
Nước Nga vốn xây dựng ngân sách cho giai đoạn ba năm tiếp theo: 2015 - 2017 với cơ sở giá dầu 100 đôla Mỹ một thùng. Nhưng giá dầu liên tiếp giảm trong thời gian nửa cuối năm 2014, nhất là sau Hội nghị của Hiệp hội các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cuối tháng 11/2014 thống nhất duy trì sản lượng và do đó, tiếp tục "ghìm" giá dầu, làm cho giá dầu thô đã giảm tới mức dưới 70 đôla Mỹ một thùng. Người ta tin rằng, chiến tranh đã thực sự nổ ra, một bên là Hoa Kỳ cùng Arab Saudi, và bên kia là Nga và Iran.
Cuộc chiến tranh thực, chính là cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS, một "cuộc chiến ủy nhiệm" được Hoa Kỳ tiến hành chống Iran; còn cuộc chiến giá dầu, là chống cả hai. Lịch sử dường như đang lặp lại - cuối thập niên 1980 theo yêu cầu của tổng thống George W. Bush (Bush "cha"), Arab Saudi cũng cùng với Hoa Kỳ "ghìm" giá dầu xuống mức thấp. Ngân sách Liên Xô thâm hụt, tổng thống (đầu tiên và cuối cùng) của Liên Xô Mikhail X. Gorbachev đang tiến hành hàng loạt các đàm phán quan trọng với phương Tây còn phải chấp nhận việc đi tìm các khoản vay và viện trợ, đưa tới sự suy yếu rõ rệt về vị thế chính trị trên trường quốc tế. Tình hình sản xuất dầu ở Libya dần đi vào ổn định trở lại cũng góp phần làm giảm giá dầu thế giới.
"Vũ khí bí mật" của Mỹ
Nhưng người ta còn nói nhiều đến việc ngay trong năm 2014 này, Hoa Kỳ vươn lên trở thành nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới. Vốn dĩ Hoa Kỳ đã là nước có trữ lượng dầu và khí tự nhiên thuộc loại "có máu mặt", nhưng theo quan điểm phát triển không khai thác tài nguyên thiên nhiên, nên Hoa Kỳ tập trung vào nhập khẩu các nhiên liệu hóa thạch này.
Năm nay cũng là năm người ta nói nhiều đến việc Hoa Kỳ trong 5 năm vừa qua, âm thầm phát triển thành công công nghệ sản xuất dầu từ đá phiến sét - vốn được coi là một hoạt động sản xuất không hiệu quả, giá thành cao, đòi hỏi công nghệ phức tạp và tốn kém về xử lý môi trường... Hoa Kỳ trong vòng sáu năm vừa qua, đã tăng sản lượng dầu mỏ của mình lên tới 70%. Về phía Arab Saudi, họ nhìn thấy ở một giá dầu thấp trong khoảng 70 - 80 đôla, là sự bất lợi lớn cho các kẻ thù của mình: Iran, Syria, Sudan.
Dân gian Việt Nam có câu "phi thương bất phú, phi công thì bất hoạt..." không đi buôn thì khó giàu, không có sản xuất thì khó mà linh hoạt. Chữ "công" ở đây giờ đây cần được hiểu là "công nghệ". Hoa Kỳ do làm chủ được công nghệ sản xuất dầu từ đá phiến sét, đã tung ra một "vũ khí bí mật" hoàn toàn có khả năng đẩy hai nền kinh tế Nga và Iran tới bờ vực của sự sụp đổ.
Nga, dầu mỏ, Liên Xô, dầu mỏ, khí đốt, Ukraine, Crimea, Mỹ, chiến tranh, Putin, GDP
Khí đốt chính là "vũ khí" của Nga. Ảnh: AP
Các biên tập viên của tờ báo mạng Nga Nezavisimaya Gazeta ngày 16/10/2014 đã viết: "Sự phụ thuộc của nền kinh tế Nga vào nguồn tài nguyên năng lượng, đặc biệt là dầu khí, như một con nghiện ma túy, và người ta gọi nó là Con nghiện dầu".[1]
Tình hình khó khăn thực sự, nên dư luận Nga cũng rất thẳng thắn nhìn thẳng vào sự thật: "...đất nước của chúng ta rất dễ lại rơi vào kịch bản khủng hoảng 2008 - 2009 thậm chí còn tệ hơn. Chỉ hy vọng rằng các "ông vua dầu mỏ" tỉnh ra điều chỉnh sản lượng dầu và đưa giá lên khoảng 90 đôla một thùng. Và còn tốt hơn nữa nếu giá là 100 đôla..." (Nikolay Makeyev và Konstantin Smirnov viết trên tờ "Moskovskiy Komsomolets" - Những người thanh niên cộng sản Mátxcơva.) [2]
Cuộc "Chiến tranh lạnh mới" đang diễn ra và hoàn toàn không có biểu hiện gì của một cuộc chiến ngắn hạn, mà là một cuộc chiến dài hơi. Vào thời gian ngồi ở ghế tổng thống Liên bang Nga, D. Medvedev đã ban hành nhiều sắc lệnh, chính sách chống "đô la Mỹ hóa nền kinh tế Nga", nhưng đến nay, đồng rub Nga vẫn là một đồng tiền yếu, cùng với việc cả Hoa Kỳ lẫn châu Âu nắm trong tay hai tổ chức tài chính lớn, "hai tay nắm dạ dày của thế giới" là Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF); cho thấy Nga cũng yếu thế nốt trên mặt trận tài chính.
Phục hồi và phát triển một nền công nghiệp, và cả phát triển công nghệ, không phải chuyện một sớm một chiều. Đồng thời rõ ràng thời gian giá dầu lên cao đem lại một ngân sách dồi dào cho nước Nga là quá ngắn, chưa đủ để tổng thống Putin và các cộng sự của ông làm nên những kỳ tích của nền kinh tế sản xuất Nga.
Cuộc chiến giá dầu mới chỉ bắt đầu, và sẽ còn gây là nhiều ảnh hưởng tiêu cực với cả hai bên, Phương Tây và Nga, không ai có thể đoán định trước được điều gì, nhưng nhiều khả năng trong năm 2015 hai bên sẽ tìm được những biện pháp thích hợp để giảm đi căng thẳng của tình hình hiện nay.
-----
Tham khảo:
[1] Nguyên văn: Зависимость российской экономики от энергоресурсов, прежде всего нефти и газа, часто сравнивают с наркозависимостью, говорят, что она «на нефтяной игле». - "trên cái kim dầu", cũng có thể dịch "trứng để đầu đẳng."
[2] Nguyên văn: нашу страну ожидает повторение кризиса 2008-2009 годов, только в гораздо худших вариантах. Остается надеяться, что нефтяные шейхи одумаются, сократят свою добычу и стабилизируют цены хотя бы в пределах $90 за баррель. А лучше вернут до $100...
 
  
Đánh giá:

'Lời đồn' Mỹ trực tiếp can thiệp Biển Đông?


'Lời đồn' Mỹ trực tiếp can thiệp Biển Đông?


Năm 2010, một điểm có lẽ sẽ thu hút được nhiều chú ý nhất là quan điểm cho rằng Mỹ có thể tham gia trực tiếp vào tranh chấp ở Biển Đông.
LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu Phần 2, Nghiên cứu Chính sách của Mỹ đối với tranh chấp tại biển Đông từ 1995* của M. Taylor Fravel. Tác giả là PGS Khoa học chính trị và là thành viên của Chương trình Nghiên cứu An ninh tại Viện Công nghệ Massachusetts.
Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, chính sách của Mỹ đối với các tranh chấp ở Biển Đông chủ yếu mang tính đối phó. Mỹ chỉ thay đổi nội dung chính sách khi xảy ra những sự kiện đe dọa các mối quan tâm của Mỹ tại khu vực này. Có thể xem xét chính sách mà Mỹ đã tuyên bố theo các bước ngoặt nổi bật.
1995: TQ chiếm bãi đá Vành Khăn
Lần đầu tiên Mỹ công khai đưa ra quan điểm về các tranh chấp trên Biển Đông là sau sự kiện TQ chiếm bãi đá Vành Khăn cuối năm 1994. Đáp lại mối lo ngại gia tăng về tình hình ổn định trong khu vực, tháng 5/1995, qua Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, Mỹ đã đưa ra một tuyên bố chính sách. Theo tuyên bố này, chính sách của Mỹ có 5 điểm như sau:
(1)   Giải pháp hòa bình đối với các tranh chấp: "Mỹ cực lực phản đối việc sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các tuyên bố chồng lấn và hối thúc các bên ra tuyên bố kiềm chế và tránh những hành động gây mất ổn định."
(2)   Hòa bình và ổn định: "Mỹ luôn muốn duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông."
(3)   Tự do hàng hải: "Duy trì tự do hàng hải là mối quan tâm cơ bản của Mỹ. Quyền tự do đi lại của tất cả các tàu thuyền và máy bay trong khu vực Biển Đông là điều kiện cần để đảm bảo hòa bình và sự thịnh vượng của toàn bộ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Mỹ".
(4)   Trung lập trong vấn đề chủ quyền: "Mỹ không đứng về bên nào về mặt pháp lý trong các tuyên bố chủ quyền chồng lấn đối với các đảo, dải đá ngầm, san hô, và bãi đá ở Biển Đông".
(5)   Tôn trọng các quy định hàng hải, đặc biệt là UNCLOS: "Tuy nhiên, Mỹ sẽ nghiêm túc xem xét bất kỳ tuyên bố hàng hải hoặc hạn chế hoạt động hàng hải nào ở Biển Đông mà không phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982".
Sau khi TQ chiếm Vành Khăn, dù không biến mất hoàn toàn, song căng thẳng trong tranh chấp trên Biển Đông bắt đầu lắng dịu. Cuối thập niên 1990, TQ và ASEAN bắt đầu tiến trình đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử đối với các tranh chấp trên Biển Đông. Năm 2002, hai bên đi đến thống nhất về việc đưa ra tuyên bố về một bộ quy tắc ứng xử, trong đó các bên cam kết tới một thời điểm nào đó sẽ cùng ký vào bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc này.
Biển Đông, Mỹ, giàn khoan 981, Trung Quốc, tự do hàng hải, Unclos, EEZ, thềm lục địa. DOC, COC, ASEAN
Đá Vành Khăn. Ảnh: Victor Robert Lee/ Thewangpost
2010: Phản ứng trước các căng thẳng ngày càng tăng từ tất cả các bên tranh chấp
Năm 2010, Mỹ quyết định mở rộng và làm rõ chính sách của mình đối với Biển Đông nhằm đáp lại sự leo thang căng thẳng giữa các bên tuyên bố kể từ sau năm 2007. Trong suốt thời gian từ năm 2007 đến giữa năm 2010, tất cả các bên tuyên bố, đặc biệt là TQ đều chủ động hơn trong việc khẳng định tuyên bố chủ quyền của mình, và có lúc còn có hành động củng cố hoặc bảo vệ các yêu sách này, khiến tình hình càng thêm căng thẳng.
Cụ thể, TQ đã đe dọa các công ty dầu khí nước ngoài (trong đó có một số công ty Mỹ) đang đầu tư vào các khu khai thác ngoài khơi Việt Nam trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2008, ra tuyên bố và phản đối tuyên bố về quyền khai thác thềm lục địa mở rộng tới một cơ quan của Liên hợp quốc, cố ý bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam hoạt động ở vùng nước gần quần đảo Hoàng Sa trong năm 2008 và 2009, cố tình cản trở hoạt động của tàu khu trục USNS Impeccable khi tàu này ở vị trí cách đảo Hải Nam khoảng 75 hải lý hồi tháng 3/2009, đính kèm một bản đồ có "đường chín đoạn" vào một công hàm gửi Liên hợp quốc hồi tháng 5/2009, áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá theo mùa ở khu vực phía bắc Biển Đông, gia tăng số lượng tàu tuần tra của các cơ quan chấp pháp ở các vùng nước tranh chấp, tăng tần suất và quy mô tập trận ở Biển Đông.
Đến năm 2009, Mỹ bắt đầu chú ý nhiều hơn đến Biển Đông. Có hai nguyên nhân mật thiết. Thứ nhất, lần đầu tiên TQ trực tiếp thách thức lợi ích thương mại của Mỹ, cụ thể là các công ty dầu khí của Mỹ đang hoạt động ngoài khơi Việt Nam năm 2008.
Thứ hai, việc TQ cản trở hoạt động của tàu khu trục USNS Impeccable và các tàu khảo sát khác của lực lượng hải quân Mỹ lại làm dấy lên câu hỏi về cách tiếp cận của TQ đối với vấn đề tự do hàng hải ở các vùng biển quốc tế.
Đến năm 2010, chính quyền của Tổng thống Obama quyết định cần đưa ra một tuyên bố mới về chính sách của Mỹ ở Biển Đông. Thời điểm được chọn là hội nghị hàng năm của Diễn đàn Khu vực ASEAN diễn ra vào tháng 7/2010. Trong suốt phiên họp kín, Mỹ và 12 nước khác đã bày tỏ mối lo ngại về tình trạng căng thẳng trên Biển Đông. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đưa ra tuyên bố công khai về lập trường của Mỹ, tính thời điểm đó đây là tuyên bố công khai ở cấp cao nhất của chính quyền Mỹ.
Trong tuyên bố của mình, bà Clinton khẳng định các điểm cốt lõi trong chính sách năm 1995, đồng thời cũng đưa thêm vào những điểm mới, cụ thể là:
(1)   Không giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp cưỡng ép
(2)   Ủng hộ "các bên theo đuổi một tiến trình ngoại giao hợp tác," Mỹ sẵn lòng "hỗ trợ các sáng kiến và các biện pháp xây dựng lòng tin, phù hợp với [Tuyên bố về Bộ Quy tắc Ứng xử năm 2002]
(3)   Ủng hộ soạn thảo một bộ quy tắc ứng xử đầy đủ
(4)   Giữ lập trường "các tuyên bố chủ quyền hợp pháp đối với không gian trên biển ở Biển Đông chỉ nên xuất phát từ tuyên bố chủ quyền hợp pháp đối với các thực thể".
Bản tuyên bố không nêu đích danh TQ. Tuy nhiên, nhiều yếu tố trong bài phát biểu của Ngoại trưởng Clinton nhắm trực tiếp vào TQ hơn bất kỳ bên tuyên bố nào khác.
Trước hết, cách nói "các tuyên bố chủ quyền hợp pháp" cho thấy Mỹ phản đối bất kỳ tuyên bố quyền trên biển nào của TQ dựa trên bản đồ đường chín đoạn. Thứ hai, việc nhấn mạnh vào "tiến trình hợp tác" ngụ ý tới các cuộc nói chuyện đa phương, trái ngược hẳn với mong muốn đàm phán song phương với từng bên tranh chấp của TQ.
Trong thời gian này, một điểm có lẽ sẽ thu hút được nhiều chú ý nhất là quan điểm cho rằng Mỹ có thể tham gia trực tiếp vào tranh chấp ở Biển Đông. Quan điểm này dựa trên một số lý lẽ.
Đó là, tại cuộc họp diễn ra vào tháng 7/2010 trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN, Mỹ đã phối hợp với các nước khác (bao gồm cả các bên có tuyên bố trong tranh chấp và các bên không), cùng nhau, 12 quốc gia bày tỏ quan ngại về tình trạng căng thẳng ngày càng leo thang tại biển Đông, mà TQ góp phần gây ra.
Thứ 2, Mặc dù bà Clinton không tuyên bố rằng Mỹ sẽ trở thành một bên trong tranh chấp, song tuyên bố chính sách mới này rõ ràng ngụ ý rằng việc này có thể xảy ra, và cảm nhận này được giữ nguyên mà không có đính chính.
Bằng tuyên bố chính sách mới năm 2010, Mỹ cho thấy mình đã lên kế hoạch để vừa duy trì được sự trung lập trong vấn đề tranh chấp (chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán trên biển), vừa có thể tham gia vào cuộc tranh chấp theo một cách nào đó.
Cho đến mùa hè năm 2012, chính sách của Mỹ đối với các tranh chấp Biển Đông vẫn không có nhiều thay đổi đáng kể, ngoại trừ một ngoại lệ. Thảo luận về việc "tạo điều kiện" cho các cuộc đối thoại hoặc trao đổi đã không còn xuất hiện trong luận điểm mà quan chức Mỹ đưa ra. Tuy nhiên, Mỹ tiếp tục nhấn mạnh mối quan tâm của mình đến vấn đề tự do hàng hải, giải quyết hòa bình các tranh chấp và không sử dụng các biện pháp cưỡng ép. Mỹ cũng tiếp tục nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc các bên tranh chấp cùng tham gia đối thoại, và tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ tiến trình đưa ra một bộ quy tắc ứng xử chung trên Biển Đông.
(Còn tiếp)
Hà Trang (lược dịch theo RSIS)
*Tên tiếng Anh của Nghiên cứu là "U.S. Policy Towards the Disputes in the South China Sea Since 1995". Tiêu đề các phần chuyển ngữ do Tuần Việt Nam đặt.
 
  
Đánh giá:
Ý kiến bạn đọc (0)
Sử dụng tài khoản FMS-ID Đăng nhập | Đăng ký
0/1000
 
 

Wednesday, July 16, 2014

Hội chứng "thêu dệt ký ức" của Trung Quốc - kỳ 1: Khi TQ tự 'hư cấu' về chủ quyền trên Biển Đông

16/07/2014


Hội chứng "thêu dệt ký ức" của Trung Quốc - kỳ 1: Khi TQ tự 'hư cấu' về chủ quyền trên Biển Đông

clip_image001 Người dân của đất nước TQ đã được giáo dục sai sự thật rằng tổ tiên họ đã tìm ra và đặt tên cho các hòn đảo trên Biển Đông.
LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài tư liệu của tác giả Bill Hayton trên tạp chí Prospect (Anh) phản bác lập luận về chủ quyền trên Biển Đông của TQ.
Biển Đông là nơi những tham vọng của Trung Quốc phải đối đầu với sự lo lắng của các nước châu Á và quyền lực của Hoa Kỳ. Qua những tranh chấp trên biển, Trung Quốc đã vứt bỏ vẻ bề ngoài "trỗi dậy hòa bình" để thay vào đó là ngoại giao pháo hạm. Các tàu hải cảnh có vũ trang của Trung Quốc đã đâm húc các tàu Việt Nam, bao vây các vị trí tiền đồn của Philippines, quấy rối các hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia và đe dọa các tàu hộ tống ngư dân của Indonesia.

Để ứng phó, tất cả những nước này đang ráo riết mua thêm vũ khí và tăng cường các liên kết quân sự với các nước có chung lo ngại trước những yêu sách chủ quyền ngày càng xác quyết của Trung Quốc - chủ yếu là với Mỹ, nhưng ngoài ra còn có Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Australia.
Căn nguyên của những rắc rối này là những gì mà Bắc Kinh gọi là "chủ quyền lịch sử không thể tranh cãi được" đối với 80% Biển Đông: từ cảng Hồng Kông cho tới gần bờ biển Borneo, cách đó đến 1.500km. Vấn đề đối với những tuyên bố chủ quyền này là không hề có những bằng chứng đáng tin cậy để làm căn cứ.
Vậy mà những chi tiết lịch sử hư cấu đó giờ đây lại đang đe dọa hòa bình và an ninh Châu Á và tạo ra một vũ đài để Trung Quốc và Mỹ đối đầu gay gắt, với những hệ lụy tác động đến toàn cầu. Thật khó có thể tin được rằng cuộc đối đầu có thể dữ dội này lại có gốc rễ là một cuộc tranh chấp đối với những mảnh đất gần như hoàn toàn không thể cư ngụ được.
Có hai quần thể "đảo" chính ở Biển Đông. (Chỉ một số rất ít là đảo theo đúng nghĩa, đại đa số chỉ là các rạn san hô, bãi cát hoặc đá).
clip_image002
Trung Quốc luôn "ra rả" về chủ quyền vô căn cứ trên Biển Đông. Ảnh: DigitalGlobe/ Getty Images

Đa số những hòn đảo hoang vắng này có tên tiếng Anh, thường là được đặt bởi những con tàu và thủy thủ đã phát hiện và vẽ chúng lên bản đồ. Ví dụ, đảo Trường Sa (Spratly Island) được một thuyền trưởng tàu săn cá voi tên là Richard Spratly tìm thấy vào năm 1843, còn Đá Khúc Giác (Iroquois Reef) được đặt tên theo con tàu HMS Iroquois đã phát hiện ra nó trong một chuyến khảo sát vào những năm 1920, v.v...
Khi một ủy ban thuộc chính quyền Trung Quốc lần đầu đặt tên tiếng Trung cho các hòn đảo này vào năm 1935, tất cả những gì họ làm là dịch tên hoặc chuyển âm những tên tiếng Anh đã sẵn có sang tiếng Trung. Ví dụ như đối với quần đảo Hoàng Sa, Antelope Reef (Đá Hải Sâm) được dịch là Linh Dương Tiêu (Linh Dương là từ Antelope được dịch ra tiếng Trung) và đối với quần đảo Trường Sa, cụm đá North Danger Reef trở thành Bei xian (Bắc Hiểm - tiếng Trung nghĩa là "mối nguy hiểm ở phía Bắc"), Đảo Trường Sa trở thành Si-ba-la-tuo (chuyển âm từ tên tiếng Anh "Spratly Island" sang tiếng Trung). Ủy ban của Trung Quốc chỉ đơn thuần là đã sao chép lại những bản đồ của người Anh, thậm chí sao chép cả những lỗi sai.
Những tên đảo sau đó được chỉnh sửa lại hai lần. Còn Bãi cạn Scarborough, đặt tên theo một con tàu của Anh vào năm 1748, ban đầu được chuyển ngữ thành Si ge ba luo vào năm 1935, được đổi thành Dân Chủ Đảo bởi chính quyền Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1947 và sau đó được đặt một cái tên ít nhạy cảm về chính trị hơn là Hoàng Nham (tức "bãi đá vàng") bởi chính quyền cộng sản Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1983.
Ngày nay, chính quyền Trung Quốc có vẻ như hoàn toàn không biết đến những điều này. Những lời biện hộ chuẩn mực cho chủ quyền "không thể tranh cãi" của Trung Quốc thường bắt đầu bằng câu "người Trung Quốc là những người đầu tiên phát hiện và đặt tên cho các hòn đảo Nam Sa". Trên thực tế, "người Trung Quốc" chỉ sao chép lại những tên đảo do người Anh đặt. Ngay cả cụm từ "Nam Sa" (tức "bãi cát phía nam") cũng không nằm cố định trên bản đồ của người Trung Quốc. Năm 1935, cái tên này được dùng để chỉ khu vực biển nông có tên tiếng Anh là "Bãi Macclesfield" (cũng được đặt theo tên của một con tàu Anh, giờ Trung Quốc gọi là Trung Sa). Vào năm 1947, cái tên Nam Sa lại bị dời xuống phía Nam trên bản đồ Trung Quốc để chỉ quần đảo Trường Sa.
Để kiểm tra đầy đủ từng chứng cứ do Trung Quốc đưa ra sẽ phải mất rất nhiều trang giấy, nhưng hoàn toàn có thể cho rằng vẫn chưa có bằng chứng khảo cổ nào cho thấy những con tàu Trung Quốc đã có thể đi được xuyên biển từ trước thế kỷ thứ 10. Cho đến thời điểm đó, chỉ có các con tàu của người Malay, người Ấn Độ và người Arab tiến hành giao thương và khai phá biển. Những con tàu đó, có thể vào một số dịp, có chuyên chở những hành khách Trung Hoa.
Những chuyến du hành được đề cập nhiều của "các đô đốc thái giám" trong đó có Trịnh Hòa, chỉ kéo dài khoảng 30 năm, cho đến những năm 1430. Sau thời điểm đó, mặc dù những thương nhân và ngư dân vẫn đi lại trên biển, nhà nước Trung Hoa không bao giờ viếng thăm các vùng biển xa lần nào nữa, cho đến khi chính quyền Trung Hoa Dân Quốc được Mỹ và Anh trao cho một số tàu biển vào cuối Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai.
Lần đầu tiên có một quan chức chính phủ Trung Quốc đặt chân lên một đảo thuộc quần đảo Trường Sa là vào ngày 12/12/1946, khi đó các đế quốc Anh và Pháp đều đã chiếm phần trên Biển Đông. Một phái đoàn cấp tỉnh của Trung Quốc đã đến quần đảo Hoàng Sa trước đó vài thập kỷ, vào ngày 6/6/1909, thực hiện một nhiệm vụ có vẻ như là một chuyến thám hiểm trong một ngày, được dẫn đường bởi các thuyền trưởng người Đức thuê từ hãng buôn Carlowitz. Các cuộc đối đầu quốc tế đang phải dựa vào những căn cứ khiêm tốn như vậy.
Lê Hoàng Giang (theo Tạp chí Prospect)
*Bài được đăng theo Nghiencuuquocte.net
Nguồn: vietnamnet.vn