Showing posts with label vietnamnet. Show all posts
Showing posts with label vietnamnet. Show all posts

Saturday, January 23, 2016

Danh sách và tiểu sử 14 ủy viên Bộ Chính trị khóa XI

Danh sách và tiểu sử 14 ủy viên Bộ Chính trị khóa XI

14 ủy viên Bộ Chính trị khóa mới gồm 9 ủy viên khóa trước: Trương Tấn Sang, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Lê Hồng Anh, Lê Thanh Hải, Tô Huy Rứa, Nguyễn Phú Trọng, Phạm Quang Nghị và 5 tên tuổi mới: Trần Đại Quang, Tòng Thị Phóng, Ngô Văn Dụ, Đinh Thế Huynh, Nguyễn Xuân Phúc. 
VietNamNet trân trọng giới thiệu tiểu sử của 14 ủy viên này.
1. Tiểu sử ông Nguyễn Phú Trọng

Sinh ngày: 14/4/1944.
Quê quán: Xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Vào Đảng ngày: 19/12/1967. Chính thức: 19/12/1968.
Trình độ học vấn: Đại học ngữ văn. Giáo sư, Tiến sĩ (chính trị học).
Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác:

Năm 1963 đến năm1967: Sinh viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Tháng 12/1967 đến tháng 8/1973: Cán bộ biên tập Tạp chí Cộng sản.
Tháng 9/1973 đến tháng 4/1976: Nghiên cứu sinh khoa Kinh tế - chính trị Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Chi ủy viên.
Tháng 5/1976 đến tháng 8/1981: Cán bộ biên tập Tạp chí Cộng sản, Phó Bí thư Chi bộ.
Tháng 9/1981 đến tháng 7/1983: Thực tập sinh, tốt nghiệp Phó tiến sĩ khoa học lịch sử (chuyên ngành xây dựng Đảng) tại Viện hàn lâm Khoa học xã hội Liên Xô.
Tháng 8/1983 đến tháng 8/1987: Phó Ban Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản.
Tháng 9/1987 đến năm 1989: Trưởng Ban Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản.
Tháng 7/1985 đến tháng 12/1991: Phó Bí thư rồi Bí thư Đảng ủy Cơ quan Tạp chí Cộng sản.
Tháng 3/1989 đến tháng 4/1990: Ủy viên Ban biên tập Tạp chí Cộng sản.
Tháng 5/1990 đến tháng 7/1991: Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản.
Tháng 8/1991 đến tháng 8/1996: Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản.
Tháng 1/1994 đến tháng 12/1997: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII, VIII)
Tháng 8/1996 đến tháng 2/1998: Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, kiêm Trưởng Ban Cán sự Đại học Thành ủy Hà Nội.
Tháng 12/1997 đến tháng 6/2006: Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII, IX, X).
Tháng 2/1998 đến tháng 1/2000: Phụ trách công tác tư tưởng - văn hóa và khoa giáo của Đảng.
Tháng 3/1998 đến tháng 11/2001: Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.
Tháng 1/2000 đến tháng 6/2006: Bí thư Thành ủy Hà Nội (khóa XII, XIII, XIV).
Tháng 11/2001 đến tháng 6/2006: Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Đảng.
Tháng 5/2002 đến tháng 6/2006: Đại biểu Quốc hội (khóa XI).
Tháng 6/2006 đến nay: Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XI được bầu làm Chủ tịch Quốc hội.

2. Tiểu sử ông Nguyễn Tấn Dũng

- Ngày sinh: 17-11-1949. Dân tộc Kinh
- Quê quán: Thành phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau
- Nơi ở hiện nay: 55 Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội
- Thành phần gia đình xuất thân: Cán bộ Kháng chiến
- Nghề nghiệp khi được tuyển dụng: Học sinh
- Ngày được tuyển dụng: 17-11-1961
- Ngày nhập ngũ: 17-11-1961. Ngày xuất ngũ: 1-10-1981
- Ngày vào Đảng: 10- 06-1967. Ngày chính thức: 10- 03-1968
- Trình độ được đào tạo: Giáo dục phổ thông: 10/10
Cử nhân Luật
Lý luận chính trị: Cao cấp NAQ 2 năm
- Khen thưởng: 2 Huân chương Chiến công hạng 3; 6 Danh hiệu Dũng sĩ; Huân chương Chiến sĩ giải phóng 1, 2, 3; Huân chương Hữu nghị hạng đặc biệt của Nhà nước - Hoàng gia Campuchia; Huân chương ISALA và Huân chương Vàng quốc gia của Nhà nước CHDCND Lào.
- Kỷ luật: Không
- Uỷ viên Trung ương Đảng khoá 6, 7, 8, 9, 10, 11.
- Uỷ viên Bộ Chính trị khoá 8, 9, 10, 11.
- Đại biểu Quốc hội khoá 10, 11, 12
- Sức khoẻ bình thường. Có 4 lần bị thương, Thương binh hạng 2/4

Tóm tắt quá trình công tác:

Từ 11/1961- 9/1981: Tham gia Quân đội, làm văn thư, liên lạc, cứu thương, Y tá, Y sĩ và Bổ túc chương trình Phẫu thuật ngoại khoa của Bác sĩ Quân y. Và đã qua các cấp bậc - chức vụ: Tiểu đội bậc trưởng, Trung đội bậc trưởng, Đại đội bậc phó, Đại đội bậc trưởng - Đội trưởng Đội phẫu thuật, Đại đội trưởng và Chính trị viên trưởng Đại đội Quân y (Bí thư Chi bộ Đảng) thuộc Bộ đội địa phương tỉnh Rạch Giá.
Học khoá Bổ túc sĩ quan chỉ huy cấp Tiểu đoàn - Trung đoàn Bộ binh và đảm nhiệm nhiệm vụ Thượng uý - Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn Bộ binh 207 (Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn) và Đại uý - Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Bộ binh 152 (Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Trung đoàn) chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp bạn Cam-pu-chia. Thiếu tá - Trưởng Ban cán bộ (Phó Bí thư Đảng uỷ Phòng Chính trị) của Bộ chỉ huy Quân sự Tỉnh Kiên Giang.
Từ 10/1981- 12/1994: Học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (Hà Nội). Tỉnh uỷ viên - Phó Ban tổ chức Tỉnh uỷ Kiên Giang. Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Kiên Giang - Bí thư huyện uỷ Hà Tiên. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Kiên Giang . Phó Bí thư Tỉnh uỷ - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, Đại biểu HĐND Tỉnh. Bí thư Tỉnh uỷ Kiên Giang, Bí thư Đảng uỷ Quân sự Tỉnh, Đảng uỷ viên Đảng uỷ Quân khu 9.

Từ 1/1995 - 5/1996: Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Đảng uỷ viên - Đảng uỷ Công an Trung ương.

Từ 6/1996 - 8/1997: Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị. Trưởng Ban kinh tế Trung ương Đảng và phụ trách công tác Tài chính của Đảng.

Từ 9/1997 - 6/2006: Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ - Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ. Kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Tài chính tiền tệ Quốc gia; Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nguyên; Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trưởng Ban chỉ đạo TW về Đổi mới Doanh nghiệp nhà nước; Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước về các công trình trọng điểm Quốc gia; Trưởng Ban chỉ đạo TW về phòng chống tội phạm; Chủ tịch Hội đồng đặc xá Trung ương và Trưởng Ban chỉ đạo một số công tác khác.
Năm 1998-1999: kiêm nhiệm nhiệm vụ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Bí thư Ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước.

Từ 7/2006 đến nay (19/1/2011): Thủ tướng Chính phủ - Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ; Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng; Phó Chủ tịch hội đồng Quốc phòng và An ninh. Từ tháng 2/2008 kiêm nhiệm nhiệm vụ Trưởng Tiểu ban tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm (2001-2010) và xây dựng Chiến lược Phát triển KT-XH 10 năm (2011-2020).

3. Tiểu sử ông Trương Tấn Sang


Họ và tên : Trương Tấn Sang
Tên gọi khác: Tư Sang
Ngày sinh: 21/01/1949
Quê quán: Xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: không
Ngày vào Đảng: 20/12/1969. Ngày chính thức: 20/12/1970.
Trình độ chuyên môn: Cử nhân luật.
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, VIII, IX, X.
Ủy viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X.
Bí thư Trung ương Đảng khoá X (từ tháng 5/2006 làm Thường trực Ban Bí thư Trung ương).
Đại biểu Quốc hội khoá IX, X, XI.
Đã giữ các chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh; Trưởng ban Kinh tế Trung ương.

4. Tiểu sử ông Lê Hồng Anh

Họ và tên thường gọi: Út Anh
Ngày sinh: 12/11/1949
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Quê quán: Xã Vĩnh Bình Bắc, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
Trình độ học vấn: Cử nhân Luật, Cử nhân Chính trị
Ngày vào Đảng: 02/03/1968 Ngày chính thức: 02/03/1969

Tóm tắt quá trình công tác:
1960-1965: Đoàn Văn nghệ xã Vĩnh Bình, nhân viên Phòng Giáo dục huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang
1966-1967: Cán bộ tuyên huấn xã, Chánh văn phòng xã Đội Vĩnh Bình Bắc, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang
1968-05/1968: Phó bí thư xã đoàn Vĩnh Bình Bắc, cán bộ huyện Đoàn huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang
06/1969-06/1977: Cán bộ Tỉnh đoàn, Uỷ viên BCH, UV Thường vụ Tỉnh Đoàn tỉnh Kiên Giang, Bí thư Thị đoàn thị xã Rạch Giá
07/1977-06/1982: Phó Bí thư Tỉnh đoàn, tỉnh uỷ viên, Bí thư Tỉnh đoàn Kiên Giang
07/1982-09/1986: Tỉnh uỷ viên, Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Kiên Giang
10/1986-06/1987: Uỷ viên Thường vụ, Chủ nhiệm UB Kiểm tra tỉnh uỷ Kiên Giang
07/1987-07/1990: Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Bí thư huyện uỷ Châu Thành, tỉnh Kiên Giang
08/1990-08/1991: Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Kiên Giang
09/1991-05/1996: Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Kiên Giang
06/1996-03/2001: Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Kiên Giang, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
04/2001-2002: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
2002-nay: Bộ trưởng Bộ Công an.

5. Tiểu sử ông Phùng Quang Thanh

Họ và tên thường gọi: Phùng Quang Thanh
Ngày sinh: 02/02/1949
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Quê quán: Xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc
Ngày vào Đảng: 11/06/1968. Ngày chính thức: 11/06/1969
Trình độ học vấn: Đại học khoa học quân sự, Lý luận chính trị cao cấp.
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, X.
Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.
Đã giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và an ninh, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (20/9/1971)
Đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII.  
7. Tiểu sử ông Tô Huy Rứa

Ngày sinh: 04/6/1947
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: không
Quê quán: Xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Trình độ chuyên môn: PGS. TS Triết học
Ngày vào Đảng: 6/02/1967. Ngày chính thức: 6/02/1968.
 Uỷ viên Trung ương Đảng khoá VIII, XI, X
Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X (từ tháng 01/2009)
Bí thư Trung ương Đảng khoá X.
Đại biểu Quốc hội khoá XII
Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
Tóm tắt quá trình công tác:                          
1965: tham gia thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước.
Đầu những năm 1970: sinh viên trường Tuyên huấn Trung ương chuyên ngành triết học. Sau tốt nghiệp, làm trợ giảng Khoa Triết học. Trong giai đoạn này ông đã đỗ tốt nghiệp xuất sắc cử nhân toán Đại học Tổng hợp Hà Nội.
 Đầu những năm 1980: làm nghiên cứu sinh, chuyên ngành triết học tại Viện hàn lâm Khoa học xã hội tạiLiên Xô, đỗ Tiến sỹ.
Cuối những năm 80: trở lại trường và được bổ nhiệm làm Phó trưởng khoa Triết học.
Đầu những năm 90: được bầu giữ chức Giám đốc trường Tuyên huấn Trung ương (sau là Đại học Tuyên giáo, Phân viện Báo chí và tuyên truyền và nay là Học viện Báo chí và tuyên truyền - Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh). Giai đoạn này ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, học hàm Phó giáo sư triết học.
Năm 1996: được bổ nhiệm giữ chức Phó giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/ 1996), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công làm Phó giám đốc thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Cuối năm 1999: được Bộ Chính trị bổ nhiệm làm Bí thư Thành uỷ Hải Phòng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001), ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành uỷ Hải Phòng.
Năm 2003: đượcTrung ương điều động trở lại làm Phó giám đốc thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Cuối năm 2004: được bổ nhiệm làm Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Tháng 4/2006, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương bầu vào Ban Bí thư và được phân công làm Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương),
Tại cuộc bầu cử Quốc hội khoá XII, được bầu làm đại biểu Quốc hội.
Tháng 1/ 2009 - nay: tại Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khoá X, ông được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị. Trước Đại hội XI, ông là ủy viên Bộ Chính trị khóa X, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

8. Tiểu sử ông Nguyễn Sinh Hùng 

Họ và tên thường gọi: Nguyễn Sinh Hùng
Ngày sinh: 18/01/1946
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Quê quán: Xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Trình độ học vấn: Tiến sỹ Khoa học Kinh tế
Ngày vào Đảng: 26/05/1977 Ngày chính thức: 26/05/1978
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VIII, IX, X,Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.

Tóm tắt quá trình công tác:
Năm 1990 : Cục trưởng Cục Kho Bạc Nhà nước ( tức Kho Bạc Nhà nước Việt Nam). Sau đó được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Tháng 6/2006: được Quốc hội phê chuẩn làm Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ theo đề xuất của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Khen thưởng: Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2002
Đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII.

8. Tiểu sử ông Lê Thanh Hải

Tên thường gọi: Hai Nhựt
Dân tộc: Kinh
Sinh năm 1950, tại Xã Tam Hiệp, Huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang.
Trình độ chuyên môn : Cao cấp Lý luận Chính trị, cử nhân Kinh tế, cử nhân Văn chương.
Ngày vào Đảng: 17/ 4/ 1968. Ngày chính thức: 17/ 01/ 1969.

Tóm tắt quá trình công tác:

1966- 4/1975: Phó Bí thư Đoàn ủy Liên Phường, Ủy viên Ban Chấp hành Thành Đoàn Sài Gòn - Gia Định, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Học sinh, Phó Văn phòng Thành Đoàn, Phó ban Thường trực Ban Thanh niên Công nhân Thành Đoàn, Ủy viên Ban cán sự Quận Phú Tân Sơn.
5/1975-12/1989: Quận ủy viên Quận Tân Bình kiêm Bí thư Xã, Chủ tịch Xã, Bí thư Quận Đoàn; Ủy viên Ban Thường vụ Thành Đoàn kiêm Trưởng Ban Công nghiệp Thành Đoàn, Phó Bí thư Đảng ủy Cấp trên cơ sở kiêm Chỉ huy Trưởng Lực lượng Thanh niên Xung phong Thành phố.
10/1986: Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa 4, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Thành phố, Ủy viên Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động Thành phố.
1/1990 -12/2000: Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Khóa 5, Bí thư Quận ủy Quận 5, Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Khóa 5, Ủy viên Ủy ban nhân dân Thành phố, Ủy viên Ban Thường vụ Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Khóa VI, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố kiêm Trưởng ban Ban Chỉ đạo Chương trình Xóa đói giảm nghèo Thành phố.
1/2001 đến nay, ông đã giữ nhiều chức vụ : Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX, X), Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Bí thư Thành ủy, Bí thư Thành ủy, Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

9. Tiểu sử ông Phạm Quang Nghị

Họ và tên thường gọi: Phạm Quang Nghị
Ngày sinh: 02/09/1949
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Quê quán: Xã Định Tân, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá
Trình độ chuyên môn: Tiến sỹ triết học.
Ngày vào Đảng: 28/11/1973. Ngày chính thức: 28/11/1974.

Tóm tắt quá trình công tác:

Năm 1967 - 1970: sinh viên Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).
Năm 1970 - 1975: cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam.
Sau 30-4-1975: Học viên Trường Nguyễn Ái Quốc 5, sau đó công tác tại Ban Tuyên huấn Trung ương, làm nghiên cứu sinh chuyên ngành triết học tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Liên Xô.
Năm 1985-1988: cán bộ Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.
Từ 1988 đến tháng 10/1997, lần lượt đảm nhận các chức vụ Phó Giám đốc, Giám đốc Trung tâm Thông tin công tác tư tưởng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương; năm 1994, Bí thư Đảng ủy cơ quan Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Ủy viên Ban Cán sự Đảng ngoài nước, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương về công tác tư tưởng.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.
Từ tháng 11/1997 đến tháng 6/2001: Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà Nam.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương.
Tháng 7/2001 đến tháng 7/2006: Bộ trưởng, Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Văn hóa - Thông tin.
Tháng 5/2002: Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XI.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 7/2006: Bí thư Thành ủy Hà Nội. Sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính theo Nghị quyết 15 của Quốc hội, ông được Bộ Chính trị quyết định làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Tại Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ TP Hà Nội, được bầu lại làm Bí thư Thành ủy Hà Nội nhiệm kỳ 2010-2015.

10. Tiểu sử ông Nguyễn Xuân Phúc 

Họ và tên thường gọi: Nguyễn Xuân Phúc
Sinh ngày: 20/7/1954
Quê quán: xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không
Trình độ học vấn: Đại học Kinh tế, Lý luận chính trị cao cấp
Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 12/5/1982. Ngày chính thức: 12/11/1983
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
Đại biểu Quốc hội khóa XI

Tóm tắt quá trình công tác:

Đã từng giữ chức Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Khen thưởng: Huân chương Lao động hạng hai, hạng ba, Huân chương Chiến công hạng ba, Chiến sỹ Thi đua toàn quốc.


11. Tiểu sử bà Tòng Thị Phóng: 

Họ và tên: Tòng Thị Phóng
Ngày sinh: 10/02/1954
Dân tộc: Thái
Tôn giáo: không
Quê quán: Chiềng An, thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Luật
Ngày vào Đảng: 20/11/1981. Ngày chính thức: 20/11/1982
Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Khoá VII, IX, X.
Bí thư Trung ương Đảng khoá IX, X
Đại biểu Quốc hội khoá X, XI, Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XII
Từng giữ chức Trưởng Ban Dân vận Trung ương.




12. Tiểu sử ông Đinh Thế Huynh

Họ và tên: Đinh Thế Huynh
Ngày sinh: 15/5/1953
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Quê quán: Xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Ngày vào Đảng: 08/8/1974. Ngày chính thức: 08/5/1975
Trình độ học vấn: Tiến sĩ
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, X, Đại biểu quốc hội khoá XI
Tổng biên tập, Bí thư Đảng ủy báo Nhân dân, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội
Khen thưởng: Nhiều huân, huy chương.

13. Tiểu sử ông Ngô Văn Dụ

Năm sinh: 21/12/1947
Quê quán: xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, X.
Bí thư Trung ương Đảng khóa X (bầu bổ sung tại hội nghị lần thứ 9, tháng 1/2009).
Đại biểu Quốc hội khoá XII.
Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.





14. Tiểu sử ông Trần Đại Quang  
Họ và tên: Trần Đại Quang
Năm sinh: 12/10/1956
Quê quán: Huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.




VietNamNet

Thursday, December 31, 2015

Tướng Lê Đức Anh, đưa VN thoát vòng xoáy nước lớn

Tướng Lê Đức Anh, đưa VN thoát vòng xoáy nước lớn

“Khi mâu thuẫn Trung - Xô chuyển thành mâu thuẫn đối kháng, rồi xuất hiện xu hướng liên kết Mỹ - Trung chống Liên Xô bằng "con bài Việt Nam” đã khiến ta rơi vào vòng xoáy giữa các mối mâu thuẫn giữa các nước lớn.”, đại tướng Lê Đức Anh
LTS:Năm 2016 được xác định có ý nghĩa đặc biệt đối với kinh tế - xã hội khi Việt Nam là thành viên trong Khối Cộng đồng Kinh tế Asean (AEC). Từ những ý kiến nhận định sáng suốt của Đại tướng-nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh tại thời điểm hơn 40 năm trước, thư ký của ông, Đại tá Khuất Biên Hòa đã viết về câu chuyện “Ý tưởng gia nhập Asean – khởi điểm hành trình đến AEC hôm nay”.
Trong vòng xoáy các nước lớn
Trước thềm Đại hội Đảng VI, khi đại hội Đảng toàn quân từ ngày 13-18/10/1986 , đồng chí Lê Đức Anh được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu trưởng thay cho Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn vừa đột ngột qua đời. Vừa nhậm chức, ông lập tức lên thị sát biên giới phía Bắc, rồi trở vào Nam Trung Bộ thám sát tất cả các đảo của quần đảo Trường Sa và quân cảng Cam Ranh. Lúc này, nhận định về vị thế “VN đang bị cuốn vào các vòng xoáy các nước lớn” trong tâm trí ông càng rõ.
Sau khi được bổ nhiệm là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh có điều kiện để trình bày một cách đầy đủ với Bộ Chính trị về những nhận định và đề xuất ý tưởng của mình.
Lê Đức Anh, nước lớn, ASEAN, hội nhập, Đổi Mới
Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
Tại cuộc họp Bộ Chính trị hẹp tại Nhà con rồng – Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng tại Hoàng thành Thăng Long tháng 2/1987, ông đã trình bày toàn bộ báo cáo phân tích và nhận định về tình hình thế giới, trong nước, biên giới, đồng thời đưa ra ý tưởng phải tìm cách để đưa VN “thoát ra khỏi vòng xoáy ba nước lớn” là Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ:
- 30/4/1975, ta giải phóng miền Nam. Sau đó 5 tháng, từ 19 đến 23/10/1975, cấp cao Mỹ-Trung đã gặp nhau ở Bắc Kinh và ngay sau đó ở Wasinhton, thỏa thuận 5 điểm với nội dung chủ yếu là: Mỹ sẽ viện trợ quân sự cho Trung Quốc trị giá một tỷ USD, đồng thời mở cửa thị trường và hỗ trợ kinh tế cho Trung Quốc. Đổi lại, sau 18 tháng chuẩn bị, Trung Quốc sẽ dùng tập đoàn Pôn Pốt đánh VN từ hướng Tây Nam. Bên cạnh đó, Mỹ-Trung dùng các nước thứ ba bao vây VN từ các hướng khác…
Mâu thuẫn Xô-Trung có từ những năm 50, rõ nhất từ sau Hội nghị 81 Đảng cộng sản và công nhân, mùa Thu 1960 ở Matxcơva – từ mâu thuẫn về quan điểm, đường lối, đã trở thành mâu thuẫn đối kháng và ngày càng gay gắt.
Sau khi có “Hiệp định hợp tác toàn diện Xô-Việt”, Liên Xô một mặt đưa Hải quân và Không quân tới đóng và hoạt động ở quân cảng Cam Ranh, lập cầu hàng không vận chuyển vũ khí và phương tiện chiến đấu cho Việt Nam, một mặt thiết lập “đoàn cố vấn quân sự” từ cấp sư đoàn bộ binh và trung đoàn binh, quân chủng kỹ thuật trở lên.
Họ cũng yêu cầu ta bỏ “cơ chế Đảng ủy” trong Quân đội, đồng thời đưa cả 19 sư đoàn bộ binh lên áp sát biên giới Việt-Trung. Chưa hết, họ còn đề nghị ta thành lập Quân đoàn thứ 10. Nếu làm như vậy quân số thường trực sẽ lên tới một triệu sáu. Không một nền kinh tế nào có thể nuôi nổi, huống hồ ta vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm. Có thể hình dung, trong “Đội hình tiến công” của Liên-xô, quân cảng Cam Ranh như một mũi dao, còn bộ đội Việt Nam áp sát biên giới như một tên lính xung kích.
Khi mâu thuẫn Trung - Xô chuyển thành mâu thuẫn đối kháng (trước đã có, bây giờ tăng lên), rồi xuất hiện xu hướng liên kết Mỹ - Trung chống Liên Xô bằng "con bài Việt Nam” đã khiến ta rơi vào vòng xoáy giữa các mối mâu thuẫn giữa các nước lớn.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thoát khỏi vòng xoáy này mà vẫn giữ được độc lập dân tộc?
Sau khi phân tích tình hình, đại tướng đã đề xuất ba bước đi cơ bản và cần thiết: Thứ nhất, hoạt động tích cực để “tháo ngòi nổ xung đột biên giới” tiến tới lập lại quan hệ bình thường hóa với Trung Quốc; Thứ hai, tháo gỡ thế bao vây cấm vận của Mỹ để tiến tới thiết lập quan hệ bình thường với Hoa Kỳ như ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và hai Cố vấn Trường Chinh và Phạm Văn Đồng; Thứ ba, tìm đường gia nhập ASEAN.
Theo Đại tướng, nếu đạt được 2 mục tiêu đầu ta sẽ thoát ra khỏi vòng xoáy mâu thuẫn, thoát khỏi tầm ảnh hưởng của các nước lớn nói trên. Tiếp đó, khi vào được ASEAN sẽ là bước đi để chúng ta thoát khỏi vòng xoáy ba nước lớn một cách bền vững.
Địa chính trị Việt Nam
Sau thất bại chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã câu kết với Trung Quốc, dùng Pôn Pốt ở Campuchia trả thù ta và ngăn chặn sự ảnh hưởng của Việt Nam với khu vực. Kế hoạch này đã thất bại.
Trong khi Mỹ chưa có chính sách mới đối với Việt Nam là thời cơ để ta có thể tiến hành phá bao vây cấm vận. Nhiều lãnh đạo của các nước ASEAN lệ thuộc Mỹ và Trung Quốc. Nếu ta tìm cách gia nhập ASEAN để nâng tinh thần độc lập tự chủ của họ lên, họ sẽ dần cảm thấy không bị lệ thuộc vào Trung Quốc và Mỹ nữa.
Lúc đó cũng có ý kiến băn khoăn, liệu vào ASEAN ta có lôi kéo được họ không hay ta lại bị họ lôi kéo? Và, liệu họ có chịu không? Vì nếu xét ở khía cạnh kinh tế họ sẽ không chịu mình đâu...
Đại tướng phân tích: “Nếu chỉ vì mục đích kinh tế thì khó, vì ta đang nghèo. Nhưng ta có hai cái "giàu" là giàu về chính trị và về địa lý, giàu về tiềm năng con người. Ban đầu về kinh tế có thể ta chưa có lợi gì, nhưng về chính trị thì ta có thế của một nước độc lập có chủ quyền, mà nền độc lập của ta không phải nói suông, cả dân tộc ta đã đổ bao nhiêu mồ hôi, xương máu và trí tuệ mới có được. Lòng tự trọng, tự tôn dân tộc thì anh nào cũng có. Ta vào thì họ sẽ có chỗ dựa về chính trị để họ vươn lên vì từ trước đến nay họ thường xuyên bị nước lớn chi phối. Họ cần ở ta là cần về chính trị trước tiên, mà ta lại có "vốn lớn" về chính trị. Trong khối Asean hiện tại một số nước trước đây rất "căng" với ta, gần đây đã có những dấu hiệu thay đổi. Sẽ có những nước ủng hộ ta. Ta sẽ đặt chân vào Asean từ cánh cửa của những nước như vậy.
Ông nói thêm, nhưng những bước đi đầu tiên phải hết sức bí mật và thận trọng. Nếu ta không vào thì Mỹ và một số nước lớn sẽ tiếp tục phá ta, thậm chí tiếp tục dùng một số nước ASEAN để phá ta. Khi ta vào được thì họ không phá được ta mà ngược lại, ta sẽ là chỗ dựa về chính trị để các nước ASEAN vươn lên.”    
Phân tích thấu đáo của Đại tướng đã được đồng tình cao. Cố vấn Phạm Văn Đồng nói: "Việc này bên Ngoại giao làm là đúng chức năng, Bộ Quốc phòng phải phối hợp. Việc lớn này cả Đảng và Nhà nước cùng làm mới xong". Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tiếp lời: "Bây giờ các anh cứ quyết, tôi xin làm ngay!". Cố vấn Trường Chinh  đề nghị “giao cho anh Lê Đức Anh làm cái đoạn "mở đầu". Mọi người cùng nhất trí…
Ngăn Liên Xô đưa đầu đạn hạt nhân vào Cam Ranh
Song song với việc thực thi kế hoạch “Tháo ngòi nổ cuộc xung đột Biên giới phía Bắc” và đạt tới thành công, Đại tướng Lê Đức Anh đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng văn bản Hiệp định giữa Việt Nam ký kết cùng Liên Xô.
Nhận thấy không có điều khoản nào nói Liên Xô được đưa đầu đạn hạt nhân vào Cam Ranh. Sau khi được Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đồng ý, Đại tướng đã làm việc với Đại sứ Liên Xô tại Việt Nam, yêu cầu không đưa đầu đạn hạt nhân, tàu ngầm quân sự vào khu vực cảng Cam Ranh. Người Nga nhận thấy nếu không đưa được tàu ngầm mang đầu đạn H vào Cam Ranh, thì mục tiêu không đạt được nên đã đồng ý rút khỏi Hiệp định sớm 4 năm, bộ đội Hải quân và Không quân Nga cũng rút khỏi Cam Ranh.
Ngay sau khi Nga rút, VN đã kí với ASEAN Hiệp định “Khu vực Đông Nam Á là khu vực phi hạt nhân”. Các nước Asean rất đồng tình và thấy rõ VN có thiện chí. Đây chính là bước ngoặt quan trọng để sau đó Việt Nam từng bước đạt được những lộ trình quan trọng và cơ bản của 3 mục tiêu đã đề ra, sau cùng là chính thức gia nhập Hiệp hội ASEAN:
Tháng 11/1991, Việt Nam và Trung Quốc ký Hiệp định lập lại quan hệ bình thường.
Tháng 7/1993, Tổng thống Bill Clinton đã mở đường cho các tổ chức tài chính quốc tế gồm IMF, WB bắt đầu cung cấp tín dụng cho VN. Tháng 2/1994, Mỹ tuyên bố chấm dứt cấm vận sau 19 năm. Ngày 12/7/1995, VN và Mỹ chính thức lập quan hệ bình thường, lập văn phòng ngoại giao.
Ở vị trí Chủ tịch Nước, ngày 29/4/1994, Đại tướng Lê Đức Anh đã thăm Indonesia và gặp Tổng thư kí khối ASEAN. Tại cuộc gặp này, ông đã chia sẻ ý định gia nhập ASEAN của Việt Nam và nhận được ủng hộ. Sau đó, là các cuộc viếng thăm của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và các thành viên Chính phủ đã diễn ra. Cuối cùng chúng ta đã trở thành thành viên của ASEAN vào ngày 28/71995
***
Nhìn lại ý tưởng hội nhập khởi đầu đưa ra từ Đại hội VI đến cuối nhiệm kì Đại hội VII, đặc biệt nhiệm kỳ 91-97 là giai đoạn VN ĐỔI MỚI toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác đối ngoại đã được triển khai thận trọng, nghiêm túc và thu được kết quả quan trọng.
Ta đã làm cho bạn bè quốc tế hiểu rõ và ghi nhận chính sách của Đảng, Nhà nước và Nhân dân VN – kiên trì đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau – hợp tác cùng có lợi.
Thành quả của công tác đối ngoại và kết quả của công cuộc đổi mới đất nước đã thực sự nâng tầm vị trí VN trên trường quốc tế. Khẩu hiệu “VN muốn là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước và các dân tộc trên thế giới” đã trở thành hiện thực. Từ đây, ta đã tranh thủ được sự giúp đỡ, khai thác được thế mạnh của từng quốc gia, từng tổ chức quốc tế vào công cuộc tái thiết, xây dựng đất nước của ta. AEC ngày hôm nay, là thành tựu, thành quả của một bước tiến dài trong ý tưởng – kế hoạch – thực thi mục tiêu độc lập, phát triển, tiến bộ của con người Việt Nam, nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Đại tá Khuất Biên HòaThư ký của Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.

Friday, October 30, 2015

Tòa quốc tế sẽ xử vụ Philippines kiện Trung Quốc

Vụ kiện Philippines - Trung Quốc ở Biển Đông:

Tòa quốc tế sẽ xử vụ Philippines kiện Trung Quốc

Thứ năm, ngày 29/10/2015, Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã ban hành quyết định đầu tiên liên quan đến vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc về tranh chấp tại Biển Đông. Theo đó, Tòa có thẩm quyền thụ lý và xem xét vụ kiện này.
Ngày 29/10/2015, Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) ra quyết định rằng Tòa có thẩm quyền thụ lý và xem xét một vài khía cạnh cụ thể trong tổng thể tranh chấp trên Biển Đông được đệ trình bởi Philippines chống lại Trung Quốc đầu năm 2013.
Trong Thông cáo báo chí được phát đi cùng ngày từ La Haye, Hà Lan, Tòa Trọng tài khẳng định rằng việc thụ lý và xem xét vụ kiện là phù hợp với các quy định của UNCLOS. Quan trọng hơn, sự vắng mặt (từ chối tham gia vụ kiện) của Trung Quốc không loại trừ thẩm quyền xét xử của Tòa. Theo đó, Tòa Trọng tài sẽ xem xét và ra phán quyết đối với 7 trong số 15 luận điểm mà Philippines đã đệ trình trong bản Thông báo và Tuyên bố Khởi kiện Trung Quốc trước Tòa Trọng tài về “Thẩm quyền trên các vùng biển của Philippines đối với Biển Tây Philippines” ngày 22/1/2013.
Philippines, Trung Quốc, kiện
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là Tòa bảo lưu việc xem xét về thẩm quyền của Tòa liên quan đến luận điểm quan trọng nhất từ phía Philippines: các yêu sách quyền lịch sử được thể hiện qua đường chín đoạn (đường lưỡi bò) của Trung Quốc ở Biển Đông trái với UNCLOS, và do đó không có giá trị pháp lý. Trong khi đó, Tòa cho rằng câu hỏi về vấn đề Bãi cạn Scarborough là “đá” hay “đảo” rõ ràng thuộc về thẩm quyền xem xét của Tòa.
Bên cạnh đó, Tòa cũng bác bỏ luận điểm của Trung Quốc được nêu ra trong bản “Tuyên bố về Lập trường của Trung Quốc đối với vụ kiện mà Philippines khởi xướng trước Toà Trọng tài” đề ngày 07/12/2014, rằng: “Tuyên bố Trung Quốc – ASEAN về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 cấu thành một thỏa thuận nhằm giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông thông qua phương thức duy nhất là đàm phán”. Tòa đưa ra quyết định rằng DOC năm 2002 là một thỏa thuận chính trị và không ràng buộc các bên về mặt pháp lý.
Nhìn lại vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc về tranh chấp trên Biển Đông, đây là một vụ kiện đáng chú ý ở nhiều khía cạnh, cả về chính trị, ngoại giao và pháp lý đối với các quốc gia trong khu vực và thế giới. Đây là lần đầu tiên tranh chấp Biển Đông được đưa ra một cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế, cụ thể là trước Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS.  Đây cũng được xem như một bước đi khá táo bạo và mạnh mẽ của Philippines trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc,  có xu hướng sử dụng các biện pháp vũ lực để giải quyết tranh chấp với các nước láng giềng.
Từ ngày 7 – 14/7/2015, theo lộ trình đã được thông báo, Toà Trọng tài đã tổ chức phiên điều trần về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc tại La Haye, Hà Lan. Trung Quốc không cử phái đoàn đến tham gia tranh tụng. Thay vào đó ngày 07/12/2014, Bắc Kinh công bố một văn bản nêu lập trường của mình về các vấn đề trên Biển Đông, cũng như về quá trình tố tụng mà Philippines đã khởi động tại PCA. Vì lý do vắng mặt tại tòa của một bên,  trong buổi điều trần, Toà Trọng tài chỉ lắng nghe ý kiến và tiến hành đặt câu hỏi về thẩm quyền của Toà Trọng tài cho các thành viên và luật sư của phái đoàn Philippines.
Sau quyết định ngày 29/10/2015 về thẩm quyền của Tòa Trọng tài trong việc thụ lý và xem xét vụ kiện, Tòa sẽ tiếp tục đưa ra đánh giá về các luận điểm được nêu ra bởi Philippines và Trung Quốc. Phán quyết của Tòa liên quan đến vụ kiện Biển Đông dự kiến được đưa ra vào năm 2016.
Quyết định có thẩm quyền thụ lý và xem xét vụ kiện của PCA giúp làm giảm bớt sự phức tạp của các tranh chấp hiện nay thông qua con đường pháp lý. Phán quyết của Tòa trong những tháng tới còn góp phần quan trọng trong quá trình phát triển của luật quốc tế tại Biển Đông. Cơ sở pháp lý của đường lưỡi bò cũng như việc mập mờ trong câu hỏi phân định các thực thể địa lý tại Biển Đông là những kết quả mà chúng ta chờ đợi.
Thực thi quyền tự do hàng hải của tài trục hạm USS Lassen xóa tan huyền thoại pháp lý về những bãi cạn mà Trung Quốc tự cho rằng là đảo, thì với quyết định và những phán quyết tiếp theo của của PCA hy vọng sẽ mang lại ánh sáng công lý cuối đường hầm. Dẫu đường hầm đó nhiều lần đã bị chặn, bằng các cách vô tình hay cố ý.   
Đỗ Việt Cường
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Luật quốc tế tại Viện Sau Đại học Geneva về Nghiên cứu Quốc tế và Phát triển (IHEID), và Đại học Geneva, Thụy Sĩ. Đỗ Việt Cường đồng thời cũng là nghiên cứu viên cộng tác của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.
Tài liệu đính kèm:
- Thông cáo báo chí ngày 29/10/2015 của Tòa Trọng tài: http://www.pcacases.com/web/sendAttach/1503
- Phán quyết ngày 29/10/2015 của Tòa Trọng tài về thẩm quyền thụ lý và xét xử vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc trong tranh chấp tại Biển Đông: http://www.pcacases.com/web/sendAttach/1506