Monday, July 3, 2017

Đàm phán biên giới Việt-Trung 1974-1978

Đàm phán biên giới Việt-Trung 1974-1978

  • 21 tháng 2 2017
Quân Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh ngày 17/4/1975Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionQuân Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh ngày 17/4/1975
Trong các cuốn sách nghiên cứu lịch sử, mối liên hệ Việt-Trung xấu đi sau năm 1975, thường được gán cho là hậu quả của việc Hà Nội nghiêng về phía Liên Xô.
Trong lúc các giải thích này phần nào đúng, thì các tài liệu từ văn khố Hungary đã hé lộ cho thấy nguyên nhân chính gây ra cuộc xung đột Việt Trung là một vấn đề mà Liên Bang Xô Viết chẳng có dính dáng gì tới: đó là cuộc tranh chấp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa.
Nhìn từ khía cạnh Trung Quốc, chuyện Hà Nội không chịu hùa với Bắc Kinh trong cuộc xung đột Nga-Trung chắc chắn là là một trong các nhân tố chính làm cho hai nước trước đây là đồng minh nhưng sau đó đã từng bước một không thuận thảo với nhau.
Trong và sau cuộc chiến Việt Nam, các chiến lược gia của Trung Quốc lo ngại rằng nếu như Liên Xô “nắm” được Mông Cổ, thì thế nào họ cũng nhảy vào Đông Dương, và do đó, sẽ “khoanh vùng” nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc lại.
Để thuyết phục Việt Nam ngả về lập trường bài Liên Xô, giới lãnh đạo Trung Quốc áp dụng tùy theo thời cơ chiến thuật “vừa o, vừa ép” lân bang nhỏ của họ ở phía nam.
Và để ăn chắc, họ cũng tìm cách bành trướng thế lực của họ tại hai nước Đông Dương mà Hà Nội đã có ảnh hưởng: đó là Lào và Campuchia.
Nghịch lý thay, chính vì Trung Quốc cạnh tranh với Bắc Việt trong việc gây thanh thế lên Lào và Campuchia, nên đã giúp cho Liên Xô xích lại gần hơn với Bắc Việt vì Liên Xô - không như Trung Quốc - sẵn sàng chấp thuận thế thượng phong của Hà Nội lên cả Đông Dương.
Như một nhà ngoại giao Xô Viết đã nói hồi tháng Ba năm 1970: “Việt Nam có thể trở thành viên đá tảng cho thể chế xã hội chủ nghĩa tại Lào và Campuchia.”
Vào cuối mùa thu năm 1973, Thủ tướng Bắc Việt vào lúc đó là ông Phạm Văn Đồng, trong một chuyến thăm Đông Đức, đã nhất mực nói với nước chủ nhà rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cương quyết duy trì mối giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc.
Vì muốn thống nhất đất nước bằng võ lực sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, Hà Nội hoàn toàn không hài lòng khi điện Kremlin bắt đầu giảm viện trợ quân sự cho Bắc Việt sau Hiệp Định Paris.
Do đó, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam bắt buộc phải có lý do riêng để đối mặt với Trung Quốc.
Một lý do mà hầu như mọi người đều biết là Việt Nam cạnh tranh gây thế lực với Trung Quốc lên Đông Dương, tuy nhiên theo ý kiến cá nhân của tôi, một trong các lý do quan trọng là Hà Nội bất bình trước sự thể là Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bởi vì Bắc Việt chưa đồng ý về đường biên giới trên biển với Trung quốc và thứ đến là cuộc xung đột với Pol Pot.
Bước sang năm 1974, sự chằng chịt của hai vấn đề này rõ ràng đã làm cho giới lãnh đạo của đảng Lao Động Việt Nam nhức nhối.
Vào ngày 18 tháng Một cùng năm, nghĩa là đúng một ngày trước khi bùng ra “Trận Đánh Hoàng Sa”, chính phủ Trung Quốc để trả lời cho một thỉnh cầu trước đó của Bắc Việt, đã thông báo cho Hà Nội biết rằng họ sẵn sàng ngồi vào bàn để đàm phán về đường biên giới trên biển trong vùng Vịnh Bắc Việt.
Nguyên của vụ tranh chấp này bắt nguồn từ các thỏa ước Pháp-Trung hồi năm 1887 và 1895, trong đó có các điều khoản đặc biệt về các đảo trong vịnh này, chứ không phải về đường biên giới trên biển.
Hình minh họaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionViệt Nam xem Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam
Trong lúc Hà Nội chọn giải pháp chia toàn bộ vịnh này theo đường kinh tuyến để phân biệt rạch ròi các đảo do Việt Nam chiếm giữ và các đảo do Trung Quốc chiếm giữ, thì phía Trung Quốc vạch ra rằng giải pháp có lợi cho Việt Nam hơn là Trung Quốc.
Các cuộc đàm phán về đường biên giới Việt-Trung mới vừa bắt đầu tại Bắc Kinh hồi tháng Tám đến tháng 11, thì lại bị ngưng.
Trung Quốc đưa ra đề nghị sửa đổi đường biên giới trên biển - có lợi cho Bắc Kinh- và phía Việt Nam nhất mực yêu cầu phải giữ đường biên giới theo lịch sử, do đó, hai bên khó có thể đạt được thỏa thuận và công tác đàm phán lại càng khó hơn nhất là sau khi Trung Quốc chiếm đón quần đảo Hoàng Sa.
Trung Quốc gây áp lực đòi Hà Nội phải chấp nhận “sự kiện đã rồi”, trong lúc ấy ban lãnh đạo đảng Lao Động Việt Nam lo sợ rằng nếu như chấp nhận đường biên giới trong vùng Vịnh Bắc Việt không theo đúng lịch sử phân định, thì điều hàm ý công nhận sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc và đồng thời tự tước bỏ chủ quyền của mình trên quần đảo này.
Sau vụ chiếm đóng này, ban lãnh đạo đảng Lao Động đã để lộ cho phía Trung Quốc biết rằng họ bất bình với hành động này, và sự bất bình này cộng thêm với sự thất bại của cuộc đàm phán về đường biên giới trên biển trong vùng Vịnh Bắc Bộ rất có thể đã khiến cho Bắc Kinh quyết định nêu lên một vấn đề đã bị sao lãng trong nhiều thập niên: đó là vấn đề đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.
Ngay từ đầu năm 1974, phía Trung Quốc đã bắt đầu khiêu khích tại một số khu vực biên giới, mà hai bên đều đòi chủ quyền, và vào tháng Ba năm 1975, Trung Quốc chính thức đề nghị đàm phán về vấn đề này.
Các khu vực tranh chấp phần lớn có diện tích không đáng kể: hồi năm 1979, phía Việt Nam nói rằng tổng số diện tích mà Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp là 76 cây số vuông.
Do đó, đường như đảng Cộng Sản Trung Quốc dùng vấn đề đường biên giới trên đất liền như là một món hàng để mặc cả với chủ đích buộc Việt Nam phải ép mình trong các vụ tranh chấp phức tạp hơn nhiều về đường biên giới trên biển.
Vào tháng Chín năm 1975, nhật báo Nhân Dân đã đăng một bài thơ của Tố Hữu trong đó, ông tuyên bố công khai rằng quần đảo Trường Sa, mà Trung Quốc và một số nước cũng đòi chủ quyền, là một phần bất khả phân của nước Việt Nam mới vừa thống nhất.
Nhà thơ Tố Hữu, ủy viên trung ương đảng, đã thẳng thừng tuyến bố với một đoàn Đông Đức đến thăm rằng Nam Hải thực ra là “Biển Đông của chúng tôi.”
Chắc chắn những lời phát biểu của ông Tố Hữu đã được giới lãnh đạo cao nhất chấp thuận bởi vì cũng trong tháng này khi ông Lê Duẩn viếng thăm Trung Quốc, ông cũng đã chính thức khẳng định rằng Hoàng Sa là của Việt Nam.
Tuy nhiên, đảng Cộng Sản Trung Quốc từ chối tham gia các cuộc đàm phán dưới bất cứ hình thức gì về quần đảo này.
Trái lại, vào tháng 12, truyền thông Trung Quốc đã bắt đầu nhấn mạnh theo lịch sử Trung Quốc là chủ quần đảo Hoàng Sa, và Việt Nam đã phản bác lại cùng một cung cách.
Vào tháng Hai năm 1976, hai nhật báo Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân đã đăng một loạt các bài về các lãnh thổ của Việt Nam trên biển, bao gồm không những Hoàng Sa và Trường Sa mà còn có cả hai đảo Phú Quốc và Thổ Châu, mà trong thời gian trước đó không lâu Việt Nam có đọ súng với binh sĩ Campuchia của Pol Pot trên đó.
Hồi tháng 10 năm 1977, Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu đàm phán tại Bắc Kinh về vấn đề biên giới.
Để tránh cho các cuộc đàm phán bị khựng lại ngay từ đầu, phía Việt Nam đề nghị chỉ nên bàn về đường biên giới trên biển khi nào đường biên giới trên đất liền kém quan trọng hơn, đã được giải quyết xong.
Đàm phán lâm vào bế tắc bởi vì Trung Quốc nhất mực cho rằng đường biên giới trên đất liền được sửa đổi sau năm 1895 có lợi cho Trung Quốc phải được công nhận phần nào.
Còn Việt Nam lo ngại rằng nếu chấp nhận như vậy thì chẳng khác nào hợp thức hóa sửa đổi đơn phương, kể cả sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa.
Các cuộc đàm phán về Vịnh Bắc Bộ thậm chí rất gay go vì phía Trung Quốc bác bỏ luận cứ của phía Việt Nam muốn rằng đường biên giới được ấn định trong các thỏa hiệp Pháp-Trung phải được áp dụng cho cả Vịnh Bắc Bộ chứ không riêng gì đối với một số đảo.
Ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Quốc chỉ nhìn nhận đoạn biên giới nào do Pháp vẽ mà có lợi cho họ thôi như trường hợp biên giới Lào-Trung, do đó, vụ tranh chấp lãnh thổ Việt-Trung không những chỉ là một cuộc xung đột về pháp lý mà cũng còn về chiến lược và kinh tế nữa, vì tài nguyên dầu hỏa trong vùng Vịnh Bắc Bộ và tại quần đảo Hoàng Sa rất phong phú.
Vào mùa hè năm 1978, các cuộc đàm phán hoàn toàn tan vỡ.
Sự tan vỡ này cho thấy rằng Bắc Kinh và Hà Nội tất nhiên sẽ phải đụng độ với nhau, tuy nhiên, điểm đáng nói, là cuộc xung đột Trung-Việt không có dính líu gì tới liên hệ tay ba giữa Hà Nội, Bắc Kinh và Moscow vì Liên Xô không có hậu thuẫn việc Việt Nam đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa.
Trái lại, vụ tranh cãi về lãnh thổ là một vấn đề đối với điện Kremlin bởi vì hồi năm 1958 toàn bộ khối Xô Viết đã nhìn nhận chủ quyền theo lịch sử của đảng Cộng Sản Trung Quốc trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Việc Việt Nam liên kết với Liên Xô, và sự gia nhập của Việt Nam vào khối COMECON hồi tháng Sáu năm 1978 có thể là một hậu quả hơn là nguyên nhân chính làm cho liên hệ Việt-Trung xấu đi.
Bài viết từng đăng trên BBC Tiếng Việt năm 2010. Tác giả khi đó là một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary.

Tin liên quan

Quân đội VN làm được gì nếu bị tấn công?

Quân đội VN làm được gì nếu bị tấn công?

  • 6 giờ trước
Tàu ngầm Kilo 636 hiện đại đầu tiên của Hải quân Việt Nam mang tên Hà NộiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTàu ngầm Kilo 636 hiện đại đầu tiên của Hải quân Việt Nam mang tên Hà Nội
Một nhà nghiên cứu, Tiến sĩ Ngô Thương Tô (Shang-su Wu), mới đây viết bài trên trang The Diplomat về "những điểm yếu của quân đội Việt Nam" (The Weak Points in Vietnam's Military).
Ông viết rằng "bất chấp những đầu tư quốc phòng lớn, một số điểm thiếu đầu tư của quân đội Việt Nam dễ bị tổn thương nếu Trung Quốc tấn công".
Ông nêu ra ba điểm yếu kém nhất của Quân đội Việt Nam là thiết giáp, pháo binh và dò mìn.
BBC phỏng vấn Tiến sĩ Ngô về chủ đề tranh cãi này.
BBC: Vì sao ông nghĩ các chiến đấu cơ, tàu ngầm và tàu khu trục nhỏ của Việt Nam không hề kém hơn so với của Trung Quốc?
Chiến đấu cơ Su-30MK2 thế hệ thứ tư tương đương với loại J-11, Su-30MKK và J-10 của Trung Quốc, còn cả hai nước đầu cho tàu ngầm Nga trong dự án 636. Một số tàu ngầm Trung Quốc, như type-039m được cho là có công nghệ giống như loại thuộc dự án 636. Tàu khu trục nhỏ của Việt Nam loại Gepard 3.9 không hề kém hơn type-54 của Trung Quốc. Còn tất nhiên, về con số thì lại là chuyện khác.
BBC: Nhưng ông vẫn cho rằng khả năng phòng thủ của Việt Nam, như trong công tác rà mìn, là điểm yếu dễ bị Trung Quốc khai thác?
Tàu rà mìn và ngư lôi của Việt Nam chủ yếu là tàu ven bờ hoặc cho các vùng nước khác nên chúng không loạt động lâu và công nghệ chống mìn là từ thời Chiến tranh Lạnh.
Phi cơ chiến đấu J-10BBản quyền hình ảnhXINHUA
Image captionPhi cơ chiến đấu J-10B của Trung Quốc chuẩn bị tham gia cuộc diễn tập Aviandarts tháng 6/2017
Còn về thiết giáp, nếu Trung Quốc tôn trọng biên giới trên bộ thì đây không phải là vấn đề nghiêm trọng. Nhưng nếu có xung đột trên bộ thì điểm yếu kém của Việt Nam sẽ lộ rõ.
Trung Quốc diễn tập trên bộ cùng Kirgyzstan ở vùng biên giới Tân CươngBản quyền hình ảnhXINHUA
Image captionThiết giáp Trung Quốc diễn tập trên bộ cùng Kirgyzstan ở vùng biên giới Tân Cương
So với các nước khác trong khu vực, pháo binh của Việt Nam không kém hơn nhưng vẫn yếu hơn so với Trung Quốc về độ cơ động, về khả năng tự phòng thủ và tầm tác xạ. Các loại pháo tự hành 2S1, 2S3, M-107 của Việt Nam, hệ thống hỏa tiễn bắn liên hoàn BM-21, BM-24 thì có tính cơ động cao nhưng tầm bắn chỉ bằng một nửa cho đến 2/3 của pháo tự hành của Trung Quốc.
Các loại pháo lớn có xe kéo như 105mm, 122mm, 152mm hay 155mm, thì yếu cả về tầm tác xạ lẫn tính cơ động.
Trong những năm qua, quân đội Việt Nam đã sáng tạo bằng cách đem xe Ural 375D chở pháo M-101 loại 105mm để tạo thành một hệ thống pháo di động. Nhờ thế, tính cơ động tăng lên nhưng tầm bắn và tính tự bảo vệ vẫn kém.
BBC:Trong vài năm qua, Không quân Việt Nam đã mất một số chiến đấu cơ và trực thăng, có vẻ như là vì lý do kỹ thuật hoặc thời tiết, điều này có phải là chỉ đấu rằng không quân nước này gặp vấn đề nghiêm trọng hay không?
Quân đội Việt Nam đã hiện đại hóa những năm gần đâyBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionQuân đội Việt Nam đã hiện đại hóa những năm gần đây
Tôi không thể nói về lý do của các vụ tai nạn, nhưng một số máy bay của Việt Nam, như MiG-21, Su-22, máy bay vận tải An-26, Mi-8, trực thăng UH-1, đã được đem vào sử dụng hơn 30 hay 40 năm. Vì thế, chúng đã quá cũ và tạo ra thách thức nghiêm trọng, chẳng hạn như các loại phi cơ cánh cứng đều không còn dây chuyền sản xuất.
Tàu tuần tra Echigo của Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng tháng SáuBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTàu tuần tra Echigo của Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng tháng Sáu
Mặt khác, thay toàn bộ thì lại vô cùng tốn kém, còn công tác nâng cấp chỉ giúp cho tình hình cải thiện trong ngắn hạn mà thôi.
BBC: Việt Nam đã tăng cường giao lưu hải quân với các đối tác như Mỹ, Nhật. Nếu xảy ra xung đột, liệu các đối tác sẽ giúp Việt Nam không?
Ngoại giao hải quân không thể coi là chuyện có đồng minh. Vì chẳng có trách nhiệm về pháp lý gì để các đối tác đó phải giúp Việt Nam một khi có chiến tranh. Nhưng hơn nữa thì nếu chính sách chủ đạo của Việt Nam vẫn là không có đồng minh quân sự thì việc lập liên minh sẽ không thể xảy ra.
Tuy thế, các giao lưu này có thể tạo ra một sự bất an nào đó cho Bắc Kinh và tính bất an đó có thể giúp cho tính phòng ngừa.
BBC: Cả Việt Nam và Trung Quốc đều có những hoạt động phát huy vai trò của ngư dân trong phát triển kinh tế gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo, theo khẩu hiệu "bám biển, bảo vệ chủ quyền". Ông đánh giá thế nào?
Dùng tàu thuyền mà chính thức là 'dân sự' gợi ý rằng cả Hà Nội và Bắc Kinh coi các vùng biển tranh chấp này là lãnh hải của họ. Vì thế, tàu thuyền chính thức là dân sự sẽ đóng vai trò thực thi pháp luật trong vùng biển của họ chứ không phải là đang xâm lăng vùng của bên khác.
Ngoài ra, làm thế người ta cũng tránh được việc dùng tàu hải quân để không gây ra rủi ro có tai nạn là nổ súng vào nhau. Philippines cũng thường gửi tàu tuần tra duyên hải thay cho tàu hải quân ra biển, theo lý lẽ tương tự.
Tại Đông Bắc Á, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan cũng làm như vậy, nhưng tàu tuần tra của họ có năng lực cao hơn.
Nếu các tàu dân sự các bạn nói đến là tàu cá, thì chỉ có Việt Nam và Trung Quốc dùng cách này vì họ có các đơn vị dân quân mạnh trong ngư dân.
Dù vậy, dùng tàu thuyền dân sự lại không giúp gì cho các tuyên bố chủ quyền vì chúng không có uy tín gì về pháp lý. Nó có thể có ý nghĩa trong việc diễn tập một dạng như tổng động viên hoặc để có cách che chắn tốt hơn thôi.
Biển ĐôngBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Image captionHồi 2014 đã có cuộc giằng co ngoài Biển Đông giữa các lực lượng bán quân sự và dân sự của hai nước Việt - Trung
BBC:Để hiện đại hóa quốc phòng, ông có nghĩ Việt Nam sẽ nhờ đến Mỹ nhiều hơn là Nga?
Vũ khí của cả Nga và Hoa Kỳ đều có các ưu thế riêng. Một số hệ thống vũ khí của Hoa Kỳ có thể là hiện đại hơn của Nga ít ra là đã được thử trong chiến tranh thực. Nhưng với quân đội Việt Nam, dùng các hệ thống của Mỹ sẽ tạo ra thách thức lớn về huấn luyện và hậu cần.
Các loại vũ khí của Mỹ cũng đắt hơn so với Nga. Mặt khác, những điểm yếu kém hơn của vũ khí Mỹ lại là ưu điểm của vũ khí Nga. Căn cứ vào các dự án mua sắm vũ khí những năm qua thì hàng của Israel, Ấn Độ, châu Âu, và cả của Nhật Bản đều có thể là các phương án cho Việt Nam.
Tiến sĩ Ngô Thương Tô (Shang-su Wulấy bằng tiến sĩ tại ĐH New South Wales, Australia, và hiện đang làm nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore.

Tin liên quan