Thursday, January 24, 2013

Quan hệ Trung Việt trước trận Hoàng Sa


Quan hệ Trung Việt trước trận Hoàng Sa

Cập nhật: 16:50 GMT - thứ tư, 23 tháng 1, 2013
Từ 1968, Mao Trạch Đông và Lâm Bưu nói đến 'mối đe dọa' từ Liên Xô
Tiếp tục loạt chuyên đề về Hoà đàm Paris 1973, BBC xin giới thiệu bài của Giáo sư Lý Hiểu Binh từ Đại học Central Oklahoma trả lời câu hỏi của BBC Tiếng Việt và Tiếng Trung từ London về bối cảnh quan hệ Bắc Kinh với Moscow và Hà Nội từ 1968.
Giáo sư Lý Hiểu Binh, tác giả các cuốn sách và bài viết về quân đội Trung Quốc, cũng trình bày lại cách nhìn từ Bắc Kinh về trận hải chiến Hoàng Sa 1974.

Quan hệ Trung Xô đổi hướng

Vào ngày 31/3/1968, Tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố tạm ngưng ném bom miền Bắc Việt Nam để bày tỏ một thiện chí hòa bình, và đã nhận được phản hồi tích cực từ Hà Nội qua tuyên bố ngày 4 tháng 4 rằng họ sẵn sàng thảo luận với người Mỹ.
Trung Quốc chỉ biết về chuyện Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam (DRV) đàm phán với nhau mãi về sau này. Vào khoảng tháng 4 và 5, Bắc Kinh bắt đầu phê phán Hà Nội đi theo Moscow. Sau khi đàm phán tại Paris bắt đầu ngày 13/5/1968, Trung Quốc vẫn tiếp tục chỉ trích Bắc Việt nói chuyện với Hoa Kỳ. Ngày 31/10, Tổng thống Johnson ngưng oach tạc Bắc Việt cả trên đất liền và vùng ven biển. Trong lúc Bắc Kinh kiềm chế không tham gia hội đàm Paris thì Moscow, trái lại, luôn hào hứng ủng hộ đàm phán. Bắc Việt Nam bắt đầu dịch chuyển lại gần Liên Xô.
Cùng thời gian ban lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu cảm thấy có bằng chứng rằng Hoa Kỳ đã là cường quốc mất dần ảnh hưởng vì thất bại của họ tại Việt Nam, trong khi Liên Xô lại chiếm ngay ‘khoảng trống quyền lực’ đó và bắt đầu thay chân Mỹ để thành ‘đế quốc xâm lăng’. Trung Quốc và các nước châu Á khác dễ trở thành mục tiêu của ‘chủ nghĩa đế quốc Xô Viết’. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Nguyên soái Lâm Bưu và cộng sự coi Liên Xô là mối đe dọa trực tiếp hơn Hoa Kỳ.
Quan niệm của Lâm Bưu được các cấp chỉ huy và binh sỹ Quân Giải phóng tán đồng vì họ trực tiếp chứng kiến sự thù địch gia tăng của Liên Xô với Trung Quốc. Trong cuộc xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968, quân Liên Xô đã tràn vào Đại sứ quán Trung Quốc ở Praha, tập phá và đánh tàn bạo các nhà ngoại giao Trung Quốc. Khi căng thẳng hai bên lên cao, Liên Xô triển khai một số lượng lớn quân đội dọc biên giới Trung – Xô, từ 17 tăng lên tới 27 sư đoàn vào cuối 1968.
Chu Ân Lai cũng từng nói thẳng với Phạm Văn Đồng vào ngày 29/4 rằng: “Nay Liên Xô đang bao vây Trung Quốc và vòng vây đó đã gần trọn, chỉ còn phía Việt Nam là chưa.” Lâm Bưu ra lệnh cho Quân Giải phóng sẵn sàng chiến đấu chống trả Liên Xô một khi có xâm nhập.
"Hai ông Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai ở Hà Nội năm 1960. Ông Hồ đã mời Trung Quốc cử quân đội sang Bắc Việt Nam hỗ trợ nỗ lực chiến tranh"
Các nhà nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng có một sự thay đổi chiến lược trong tư duy của Trung Quốc năm 1968. Vì coi Liên Xô là mối đe dọa hàng đầu, Trung Quốc cho rút quân khỏi Việt Nam mà trước đó họ sang theo lời mời của ông Hồ Chí Minh để đề phòng bị tấn công từ phía Bắc. [Trên thực tế] liên minh cộng sản ở Đông Nam Á coi như tan rã.
Ngày 17/11/1968, Mao nói với Thủ tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng rằng một số đơn vị Trung Quốc sẽ rút về nước và Trung Quốc “sẽ gửi quân trở lại nếu người Mỹ quay lại”.
Vào tháng 3/1969, theo thỏa thuận giữa hai quân đội, Quân Giải phóng bắt đầu rút về, giảm dần từ 16 sư đoàn, gồm 150 nghìn quân, xuống không còn đơn vị phòng không nào ở Bắc Việt Nam vào tháng 7/1970.
Trong thời gian ở Việt Nam, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tham gia 2153 trận, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ và làm hư hại 1608 chiếc trong trận Sấm Rền (Rolling Thunder) hay ‘Chiến tranh phá hoại miền Bắc’ theo cách gọi của Hà Nội.

Liên Xô thay dần Trung Quốc

Từ đầu tháng 3/1969 bắt đầu có va chạm dọc biên giới Trung – Xô. Các vụ bắn nhau xảy thường xuyên trong cả năm, và hai nước ở vào thế sắp lâm chiến. Sang đầu năm 1970, Liên Xô triển khai tới 48 sư đoàn, bằng gần một triệu quân dọc đường biên. Có tin rằng lãnh đạo Liên Xô tính cả đến cách dùng vũ khí nguyên tử để ‘đánh phủ đầu’ Trung Quốc. Hậu quả của tình hình đó là Quân Giải phóng tăng cường lực lượng lên tới tổng số sáu triệu quân, cao nhất trong lịch sử của họ.
Một tài liệu của CIA 12/8/1969 dự báo rằng:
“Gần như căng thẳng Trung – Xô sẽ không thể nào giảm trong vòng hai ba năm tới. Vì quyền lợi quốc gia xung đột nhau, vì sự cạnh tranh nhằm lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế, và sự lo sợ có thực về ý định của nhau sẽ khiến việc tiếp cận gần gũi không thể xảy ra. Vấn đề biên giới cũng sẽ không dễ giải quyết.”
Sau khi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam và giảm viện trợ cho Hà Nội, Liên Xô ngay lập tức bù vào chỗ trống và còn tiếp tục hỗ trợ kinh tế, quân sự cho Bắc Việt Nam. Từ 1969 đến 1971, Moscow ký bảy hiệp định viện trợ cho Hà Nội. Năm 1972, Liên Xô tiếp tục tăng cường hệ thống phòng thủ bằng tên lửa ở Bắc Việt Nam.
Điều thú vị là các lãnh đạo Trung Quốc cũng khuyến khích phía Việt Nam yêu cầu thêm viện trợ từ Liên Xô. Chẳng hạn như Nguyên soái Diệp Kiếm Anh đã nói với Thứ trưởng Ngoại thương Bắc Việt Nam, ông Lý Ban, vào năm 1971, rằng “Các đồng chí cần yêu cầu Liên Xô chuyển nhiều, càng nhiều càng tốt vũ khí, đạn dược, lương thực”.
Khi Chủ tịch Ban thường vụ Quốc hội Trường Chinh thăm Bắc Kinh năm 1972, Thủ tướng Chu Ân Lai nói với ông rằng Bắc Việt Nam cần đòi hỏi nhiều hơn vũ khí, quân trang quân dụng từ Liên Xô.
"Từ những năm 1968-69, Liên Xô tăng cường nhiều sư đoàn quân đội đến biên giới với Trung Quốc"
Với Bắc Kinh, cam kết hỗ trợ liên tục cho cuộc chiến tranh tại Đông Dương đã và đang làm hao hụt nguồn lực của Liên Xô. Ngoài ra, mối đe dọa từ Liên Xô đã thúc đẩy lãnh đạo Trung Quốc cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ. Nhu cầu chiến lược này cuối cùng đã đưa tới chỗ bình thường hóa quan hệ Mỹ – Trung vào nửa đầu thập niên 1970.
Về tác động của nó đến cuộc chiến tại Đông Á và Chiến tranh Lạnh, giao ước Mỹ – Trung đã tạo ra thay đổi bước ngoặt trong thế chiến lược giữa hai cường quốc thời Chiến tranh Lạnh. Nếu như các nhà hoạch định chính sách ở Washington thấy nhờ đó mà việc tập trung nguồn lực và quan tâm chiến lược của Mỹ vào đối phó với Liên Xô dễ dàng hơn, Liên Xô lại coi việc phải đương đầu cùng lúc với Phương Tây và Trung Quốc là chuyện khiến sức mạnh của họ bị phân tán nghiêm trọng.

Không nổ súng trước

Quần đảo Hoàng Sa hay Paracels mà Trung Quốc gọi là Tây Sa nằm cách Đà Nẵng chừng 170 hải lý, giữa vĩ tuyến 15'45" và 17'05" và kinh tuyến đông 111'00" và 113'00". Quần đảo này gồm khoảng từ 15-30 hòn đảo, tùy cách tính...Sau hai thập niên quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ, năm 1974, Hoàng Sa đã bị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa chiếm bằng vũ lực.
Nằm cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 330 hải lý về phía Đông Nam, quần đảo Hoàng Sa gồm các nhóm đảo Tuyên Đức (tên Việt Nam: nhóm An Vĩnh - BBC) và Vĩnh Lạc (nhóm Lưỡi Liềm) và chừng 30 đảo nhỏ khác nằm trải rộng trên khoảng 15 nghìn km2. Đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) là đảo lớn hơn cả, có diện tích 1,6 km2 và hiện nay chính quyền Hải Nam và Quân Giải phóng có trụ sở chính…
Vào tháng 9/1973, VNCH ra tuyên bố sáp nhật đảo Nam Yết và Thái Bình ở Trường Sa cùng 10 đảo khác thuộc vào lãnh thổ trên đất liền (tỉnh Phước Tuy- BBC) nhằm giữ quyền khai thác nguồn lợi thiên nhiên như dầu. Ngày 11/1/1974, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra công bố chính thức “xác nhận chủ quyền của nước này Nam Sa, Tây Sa, Trung Sa và Đông Sa và toàn bộ các nguồn lợi tự nhiên xung quanh là thuộc về CHND Trung Hoa”.
"Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa đã báo cáo lên Mao Trạch Đông và đề nghị Trung Quốc chiếm nốt các đảo do Nam Việt Nam kiểm soát và Mao đã đồng ý."
Ngày 15/1/1974, Hải quân VNCH gửi một khu trục hạm ra vùng biển quanh đảo Vĩnh Lạc. Sang ngày 16, phía Nam Việt Nam bắn vào đảo Cam Tuyền (Việt Nam: đảo Hữu Nhật) buộc các tàu đánh cá của Trung Quốc phải rời vùng này. Sang ngày 17, phía Việt Nam cử một khu trục hạm nữa chở quân lính đến chiếm Cam Tuyền và Kim Ngân (đảo Quang Ảnh) và nhổ cờ Trung Quốc. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (1897-1986), Bộ trưởng Quốc phòng và Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương đã hạ lệnh cho Hải quân Quân Giải phóng trực chiến và sẵn sàng mở chiến dịch bảo vệ Tây Sa.
Nhằm bảo vệ chủ quyền và quyền đánh bắt cá, chính phủ Trung Quốc đã quyết định có biện pháp trước tình hình này. Các tàu cá tiếp tục hành nghề nhưng luôn chú ý đến các hoạt động của Hải quân VNCH. Cùng lúc, Hải quân Trung Quốc triển khai hai chiến hạm săn tàu ngầm số 271 và 274 đến đảo Vĩnh Lạc để bảo vệ ngư dân và dân quân Trung Quốc; hai tàu quét mìn cũng được cử đến, cùng các nguồn cung ứng nước ngọt và tiếp liệu. Chiến lược của Trung Quốc là không nổ súng trước nhưng nếu Nam Việt Nam khai hỏa trước thì Trung Quốc sẽ đánh trả tàn bạo. Nguỵ Minh Sâm, chỉ huy trưởng của căn cứ hải quân Ngọc Lâm được phong làm ‘tư lệnh chiến dịch bảo vệ Tây Sa’.
Ngày 17/1, hai chiến hạm săn ngầm của Trung Quốc chở một số dân quân ra Tấn Khánh (tên Việt Nam: Duy Mộng), và Sâm Hàng (Quang Hòa). Khi đến khu vực này họ chứng kiến hai tuần dương hạm số 4 và 16 của VNCH đã bắn vào thuyền cá Trung Quốc. Phía Trung Quốc cảnh báo phía Việt Nam ngay lập tức và yêu cầu ra khỏi khu vực. Ngày 18/1 hai khu trục hạm Việt Nam quay lại và bắn vào các tàu cá Trung Quốc tám lần, phá hỏng một thuyền phía Bắc bãi Linh Dương (đá Hải Sâm).
Đến tối, phía Nam Việt Nam cử thêm tuần dương hạm số 5 (Trần Bình Trọng) và hộ tống hạm số 10 (Nhật Tảo) vào vùng nước cạnh Vĩnh Lạc. Như thế có bốn chiến hạm Nam Việt Nam trong khu vực và sau đó, Hải quân Trung Quốc cử thêm hai tuần ngầm số 281 và 282 tới đảo Vĩnh Hưng.

Mao đồng ý chiếm trọn

Ngày 18/1, theo yêu cầu của Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Chu Ân Lai (1898-1976), Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc họp phiên đặc biệt cùng nhằm lập ra ban chuyên trách năm người để ứng phó với tình hình. Các vị Diệp Kiếm Anh, chủ nhiệm ban chuyên trách, cùng Vương Hồng Văn (1935-1992), Trương Xuân Kiều (1917-2005), Đặng Tiểu Bình (1904-1997) và Trần Tích Liên (1915-1999) đã nghe Tô Chấn Hoa (1912-1979), Phó Tư lệnh Hải quân báo cáo tình hình và đề nghị phản công.
"Sau khi chiến đấu được 1 giờ 37 phút, chiến hạm số 10 (Nhật Tảo) của Hải quân VNCH bị hư hỏng nặng"
Ban chuyên trách đã ngay lập tức công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các tuần dương hạm của VNCH tại đảo Vĩnh Lạc. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, phía Trung Quốc đã chuẩn bị cho chiến dịch.
Vào 4:10 chiều ngày 18/1, ba tàu tuần dương của Việt Nam đã lập thành một đội hình nhằm tiến vào chỗ hai tàu săn ngầm số 271 và 274 của Trung Quốc. Hai tàu này nhổ neo và lao tới tăng hết tốc lực chặn đội tàu Việt Nam. Các tàu VNCH vì thế đã quay lại. Vào lúc 7:00 sáng ngày 19/1, hai tàu số 4 và số 5 của VNCH đem hơn 40 binh sỹ đổ bộ vào hai đảo Sâm Hàng (Quang Hòa) và Quang Kim (Quang Hòa Tây). Sau cuộc đổ bộ, hai bên bắt đầu đọ súng.
Một binh sỹ VNCH bị bắn chết, ba người khác bị thương. Chừng 10:22 sáng, bốn tàu Việt Nam bắn vào tàu Trung Quốc, phía Trung Quốc bắn trả. Trong loạt đạn đầu tiên, phía Trung Quốc bắn hỏng ăng-ten cho radar trên tàu số 4 của VNCH. Tàu VNCH số 16 cũng bị tàu chống ngư lôi của Trung Quốc bắn trúng và phải rời khu vực. Các tàu Trung Quốc sau đó tập trung hỏa lực và tàu số 10 của Việt Nam.
Sau khi chiến đấu được 1 giờ 37 phút, các tàu Việt Nam để lại chiến hạm số 10 bị hư hỏng nặng. Tàu này tìm cách bơi đến bãi Linh Dương như không được. Hai tàu số 281 và 282 của Trung Quốc đã bắn chìm nó. Cùng thời gian, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa đã báo cáo lên Mao Trạch Đông và đề nghị Trung Quốc chiếm nốt các đảo do Nam Việt Nam kiểm soát và Mao đã đồng ý. Sau trận hải chiến thành công ngoài biển, quân đội Trung Quốc đã đổ bộ xuống Cam Tuyền, San Hô (đảo Hoàng Sa), Kim Ngân (Quang Ảnh) và chiếm đóng các đảo này.
Trong trận chiến ‘Bảo vệ Tây Sa’ của Trung Quốc, có 18 binh sỹ Trung Quốc bị giết, 67 bị thương và phía Việt Nam có hơn 100 sỹ quan và binh sỹ bị giết hoặc bị thương, 49 người bị bắt làm tù binh.
Giáo sư Lý Hiểu Binh giảng dạy tại Đại học Central Oklahoma và là tác giả cuốn 'A History of the Modern Chinese Army'.

Monday, January 21, 2013

Báo Việt Nam vinh danh người lính Cộng hòa bảo vệ Hoàng Sa


Báo Việt Nam vinh danh người lính Cộng hòa bảo vệ Hoàng Sa

Nhiều thanh niên Hà Nội tổ chức thắp nến tri ân những người lính đã ngã xuống bảo vệ Hoàng Sa trước quân Trung Quốc ngày 19/1/1974.
Nhiều thanh niên Hà Nội tổ chức thắp nến tri ân những người lính đã ngã xuống bảo vệ Hoàng Sa trước quân Trung Quốc ngày 19/1/1974.
Nguồn :Blog danlambo

Tú Anh
Tinh thần dũng cảm của hải quân Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Quốc xâm lược được nhật báo Thanh Niên vinh danh nhân ngày 19/01 kỷ niệm 39 năm trận hải chiến bảo vệ lãnh thổ. Các trang « dân báo » và « blog » tường thuật các sinh hoạt ghi dấu sự kiện được xem là « mối hận dân tộc », thả nến tưởng niệm cố trung tá Ngụy Văn Thà và 74 tử sĩ.

Phải chăng đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu chấp nhận sự thật lịch sử ?
Nhân dịp 40 năm trận hải chiến Hoàng Sa 17/19 tháng 01 năm 1974 nhật báo Thanh Niên đã dành một bài báo dài với nhiều chi tiết để nhắc lại trận chiến lịch sử chống Trung Quốc xâm lăng. Thật ra, cách nay 4 năm, nhân dịp 35 năm trận hải chiến, báo Tuổi Trẻ cũng đã kể lại trận đánh bi hùng bất cân xứng này qua hồi ức của Thượng sĩ Lữ Công Bảy, một hạ sĩ quan trên tuần dương hạm H-4 Trần Khánh Dư do Trung tá Vũ Hữu San chỉ huy.
Vào thời điểm 2009, trong bối cảnh ngư dân Việt Nam liên tục bị Trung Quốc trấn áp, các bài báo nhắc đến chủ quyền lãnh hải vẫn gọi người lính miền nam là « quân đội Sài Gòn ». Cho đến hôm nay, những công dân Việt Nam có hành động chống Trung Quốc xâm lược lần lược theo nhau vào tù với những tội danh ngụy tạo như trốn thuế hay âm mưu lật đổ chính quyền. Những hành động xâm lấn của Trung Quốc được gọi là của « nước lạ ».
Tuy nhiên, trong bài « Quyết liệt vì Hoàng Sa » trên báo Thanh Niên 19/01/2013, thì từ cách trình bày sự kiện đến từ ngữ đã khác hẵn. Thanh Niên khẳng định Trung Quốc có hành động « phi nghĩa phi pháp » tại Hoàng Sa và đã gặp sự « kháng cự mãnh liệt của người Việt Nam »,các « chiến hạm và quân nhân VNCH chiến đấu quyết liệt » và trong cuộc hải chiến ấy « 74 chiến sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận ». Tên tuổi các cấp chỉ huy được nhắc nhở một cách trân trọng.
Báo Thanh Niên còn nhấn mạnh đến động thái ngoại giao của chính quyền Việt Nam Cộng hòa khi nhắc lại việc: « Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc bác bỏ luận điệu ngang ngược của Trung Quốc… xâm phạm lãnh thổ VNCH ». Tác giả bài viết công nhận các quân nhân hải quân miền Nam đã « kiên cường nổ súng vào kẻ xâm lược trước một kẻ thù mạnh hơn và tính hình chính trị chung có nhiều diễn biến bất lợi ».
Theo hồi ký của Tư lệnh Vùng Một Duyên hải của VNCH, Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, quân lực miền Nam lúc đó phải căng lực lượng ra đối phó với bộ binh miền Bắc.
Trong ngày 19/01/2013, trên các blog « lề trái » tràn ngập những bài văn, bài thơ về trận Hoàng Sa. Các tác giả chia sẻ « niềm đau dân tộc » và « lòng ngưỡng mộ các anh hùng VNCH ». Một nhóm Tuổi trẻ yêu nước, tự giới thiệu sinh sau trận Hoàng Sa, tổ chức lễ « thả nến » tưởng niệm « 74 chiến sĩ Vị Quốc Vong Thân" và cố Trung tá Ngụy Văn Thà.
Nhiều bài thơ tỏ lòng quý mến với bà quả phụ Huỳnh Thị Sinh được phổ biến. Liệu động thái của cơ quan Đoàn Thanh niên cộng sản Việt Nam là tín hiệu chính quyền hiện nay bắt đầu thấy cần phải đoàn kế « nội lực » để chống Trung Quốc xâm lăng hay đây chỉ là hành động « phá rào » của một nhóm nhà báo dũng cảm có cùng ưu tư với đại đa số đồng bào ?
Blogger Nguyễn Tường Thụy nhận định : « 39 năm qua, người ta đi tìm nguyên nhân của việc mất Hoàng Sa… mà điều thuyết phục nhất có lẽ là bởi công hàm của ông Phạm Văn Đồng năm 1956 và… chính sách ngoai giao của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ». Nhà báo độc lập kết luận : "Nỗi hận này không bao giờ quên và các nhà lãnh đạo hôm nay cũng nên học người xưa… »
RFI đặt câu hỏi, từ Hà Nội, blogger Nguyễn Tường Thụy cho biết không khí ngày tưởng niệm năm nay « thoải mái hơn những năm trước » :

Blogger Nguyễn Tường Thụy - Hà Nội
 
20/01/2013
 
 



TAGS: BÁO CHÍ - HOÀNG SA - PHÂN TÍCH - VIỆT NAM

Trung Quốc sẵn sàng chiến tranh?


Trung Quốc sẵn sàng chiến tranh?

2013-01-17
Tuần trước, chương trình Thế giới Trong Tuần kết luận rằng sẽ khó xảy ra chiến tranh ở Đông Á, Đông Nam Á.. Nhưng qua tuần này Trung Quốc có những động thái cứng rắn tỏ ra như đang chuẩn bị chiến tranh.
defensetalk.com photo
Hạm đội Nhật Bản thao dượt

Tín hiệu chiến tranh?

Đầu năm nay Trung Quốc tuyên bố chỉ áp dụng lệnh khám xét và ngăn cấm tàu lạ ở hải phận 12 hải lý quanh đảo Hải Nam, không phải là lãnh hải lưỡi bò mà họ áp đặt. Tình hình biển Đông nhờ đó được lắng dịu đôi chút, trong khi Trung Quốc quay sang phía Nhật, với nhiều hành động xâm phạm lãnh hải và không phận Senkaku/Điếu ngư  lại còn loan báo kế hoạch cho tàu thăm dò đến quanh Điếu Ngư, để vẽ bản đồ lại giống như đã làm ở biển Đông. Bắc Kinh có vẻ như muốn tập trung nỗ lực sang phía Đông để tránh phải hành động cùng lúc ở hai hướng khác nhau.    
chinese-j20
Chiến đấu cơ tàng hình J-20 Mãnh Long của Trung Quốc-militaryreview.com photo
Nhưng hôm thứ bảy Trung Quốc tung ra bản đồ mới gom tất cả 130 đảo ở biển Đông vào đường Lưỡi Bò, rồi hôm thứ ba ra chỉ thị về kế hoạch huấn luyện, buộc quân đội “phải thao luyện chăm chỉ và nghiêm túc như khi chiến đấu thực sự” để “chuẩn bị tốt cho một cuộc chiến”. Những động thái này quả có khiến nhiều người phải suy nghĩ về sự khả dĩ xảy ra đối đầu quân sự căng thẳng hơn, thậm chí có thể có xung đột võ trang.

Hay hành động ắt có?

Tuy nhiên lại có ý kiến cho rằng thấy những việc làm mới đây của Trung Quốc chỉ chứng tỏ sự “nhất quán” trong chính sách bành trướng lãnh hải, đó là những việc “cần làm ngay” để theo đuổi và đề cao chính sách ấy, mà người ta khó trông chờ Bắc Kinh tỏ ra ngọt dịu hơn thế.
Đã đề ra một chính sách có tính cách chiến lược thì tất nhiên phải thực hiện bằng mọi cách. Giả sử một lúc nào đó Trung Quốc tỏ ra hòa dịu ngọt ngào, thì thế giới càng phải cảnh giác vì đó có thể chỉ là chiến thuật “lùi một để tiến hai”. Nay Bắc Kinh tỏ ra hung hãn cũng chỉ thể hiện quyết tâm của họ theo đuổi chính sách đã đề ra mà thôi,Trung Quốc hẳn nhiên chưa muốn gây chiến với Nhật Bản vào lúc còn cần thời gian và tài nguyên để phát triển kinh tế, và kinh tế là túi tiền yểm trợ cho công cuộc phát triển tột cùng về quân sự. Với những vấn đề nội bộ cần nhiều ngân quỹ để xoa dịu, giải quyết, Bắc Kinh chưa có đủ ngân khoản dành cho quốc phòng, dù rằng vẫn dành ưu tiên cho công cuộc hiện đại hóa quân đội. Vì thế gây chiến lúc này không thể tránh thất bại. Trung Quốc hùng hổ ở Hoa Đông phải chăng để "dương đông kích tây", nhử đàng đông để tiến thẳng xuống hướng Nam? Ngày nay khó lòng cho Trung Quốc tạo yếu tố bất ngờ như vậy.

Đem nước ngoài làm nhân tố đoàn kết

Nhìn lại tổng thể chiến lược của Trung Quốc, thì căn nguyên của những hành động bành trướng đã bắt nguồn từ khi Đặng Tiểu Bình cùng đảng Cộng sản hạ quyết tâm thực hiện tham vọng đại dương của Bắc Kinh. Một chính sách lớn lao như vậy phải được thực hiện qua nhiều giai đoạn và nhiều phương cách.
Lúc này, giữa bối cảnh nền kinh tế mất đà tăng trưởng, nhiều khó khăn nội bộ lâu dài bắt đầu hiển hiện, là lúc Trung Quốc cần tỏ ra mạnh bạo, cứng rắn, tỏ ra như sắp gây chiến.
Lý do vì sao?  Vì trong lịch sử thế giới, nhất là ở những nước phong kiến và độc tài giống như Trung Hoa, cứ khi nào nội trị có vấn đề khó khăn là giới cai trị lại tung ra một cuộc chiến tranh với bên ngoài. Đó chính là nguyên ủy của hành động gây hấn đang diễn ra ở Senkaku và biển Đông. Hiện nay người dân Trung Quốc đang đòi hỏi công bằng kinh tế và tăng phúc lợi, hiển hiện sự bất quân bình về mọi mặt giữa thành thị - thôn quê, giữa các vùng duyên hải với vùng sơn cước, thị t
haruna-250
Chiến hạm Haruna của Nhật- militaryinfo.com photo
rường tài chính tham ô nặng đầy nợ xấu, dân số lão hoá… rồi mâu thuẫn trong nội bộ đảng, thể hiện qua vụ bí thư Trùng Khánh Bạc Hy-Lai với bộ chính trị ở Bắc Kinh. Trung Quốc phải làm một việc nào đó để toàn quốc tự dẹp yên những mâu thuẫn, những đấu tranh, tập trung năng lực ủng hộ Nhà nước trong những hành động đối ngoại. Những vụ biểu tình chống Nhật là một phép thử của Bắc Kinh trong việc vận động người dân đoàn kết lại ủng hộ đảng và Nhà nước đẩy mạnh thêm nữa những hành động chống nước ngoài, thể theo chủ nghĩa Đại Hán từ muôn đời nay.

Chẳng phải tận bây giờ

Tuy nhiên chính sách bành trướng của Trung Quốc không phải là mới có đây, mà đã manh nha từ trước thời Đặng Tiểu Bình. Chẳng phải đến nay Bắc Kinh mới thực hiện tham vọng ấy, mà họ đã khai hỏa phát động nó từ trận Hoàng Sa 1974 rồi đến Trường Sa 1988. Phải chăng Trung Quốc không phải đợi tới khi có khó khăn nội bộ mới thi hành chính sách bá quyền nước lớn?
Trở lại xa hơn nữa, người ta thấy Đường Lưỡi bò được hình thành dựa trên cái gọi là "đường mười một đoạn" của chính phủ Trung hoa Dân quốc xuất hiện trong bản đồ chính thức do Bộ Nội chính của chính phủ này phát hành từ tháng 2 năm 1948.
Cộng sản Trung Hoa đoạt chính quyền năm 1949, đã kế tục chính sách biên giới của chính phủ Tưởng Giới Thạch. Đâu phải tới bây giờ Trung Quốc mới thực hiện tham vọng đại dương!

Cơ hội: Mỹ rút khỏi Việt Nam

Đáp lại ý kiến đó, nhìn lại lịch sử, người ta thấy triều đại nào của Trung Hoa cũng muốn xâm chiếm Việt Nam và bán đảo Đông Dương để mở rộng biên giới. Nhà Nguyên từng đem biên giới nước Tàu qua khỏi nước Nga sang tận châu Âu, nhưng vó ngựa viễn chinh của quân Nguyên Mông đành gãy gục, không thể chiến thắng trước các danh tướng và quân binh dũng sĩ đời nhà Trần.
Thêm vào đó, triều đại Trung Hoa Cộng Sản dù có tham vọng đến đâu thì, trước khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, cũng không thể nghĩ tới việc bành trướng lãnh hải bao trùm biển Đông và loang ra xa hơn nữa, chỉ vì lúc đó vẫn còn hạm đội 7 của Mỹ ở phía nam vĩ tuyến 17, từng hoạt động cả trong vịnh Bắc bộ.
Chỉ vào khi Việt Nam thống nhất dưới đảng Cộng Sản thì mới là lúc Bắc Kinh có cơ hội thực hiện tham vọng đại dương. Cơ hội đã manh nha từ sau lúc Ngoại trưởng Mỹ Kissinger cam kết với Thủ tướng Chu Ân Lai về việc buông bỏ miền Nam. Hạm đội 7 đã không màng với tay cứu nạn các chiến sĩ hải quân VNCH thất trận Hoàng Sa. Rồi người Mỹ cuốn gói khỏi Việt Nam, không lâu sau cũng rút khỏi căn cứ Clark và vịnh Subic ở Philippines.
Cơ hội đã thực sự đến tay Bắc Kinh từ lúc ấy để khuất phục Việt Nam; Lào và Cambodia đương nhiên phải quy phục, Thái Lan bị kẹp giữa Đông Dương với Miến Điện khi đó còn chịu ảnh hưởng của Bắc Kinh (ngày nay đã thoát); Trung Quốc mở được con đường chiến lược ra thẳng Ấn Độ Dương thênh thang nhìn sang biển Á Rập, không phải chui qua khung cửa hẹp eo biển Malacca, thoát được một dãy “tường thành” những bản đảo nối nhau từ Thái Lan, Malaysia, Singapore, sang Indonesia, Philippines bao vây quanh biển Đông. Ngày nay cơ hội càng sáng tỏ khi nhân lực và kỹ thuật Trung Hoa càng ngày càng đầy tràn trên lãnh thổ Việt Nam.
Đây chính là lúc Bắc Kinh nỗ lực hành động để xâm chiếm dần biển Đông và đe dọa xấm chiếm biển Hoa Đông, một công hai chuyện, vừa thực hiện tham vọng bành trướng vừa hướng năng lực xung đột nội bộ ra phía bên ngoài. Nhưng liệu Trung Quốc có đạt được mục đích đó không?

Dũng sĩ Việt Nam và Thần Phong Nhật Bản

Người ta thấy Trung Quốc càng hung hãn thì Nhật càng tỏ quyết tâm bảo vệ lãnh hải, với sự ủng hộ vững chắc của Hoa Kỳ.
Trung Quốc hẳn nhiên sẽ gặp khó khăn một khi đối đầu quân sự với Nhật, có hạm đội 7 sẵn sàng đứng sau lưng. Nhưng Trung Quốc có liều gây chiến không, ở biển Đông hay biển Hoa Đông?
Việt Nam ngày xưa với binh tướng nhà Trần đã hai lần quật ngã vó ngựa tung hoành khắp châu Âu của quân Mông Cổ. Triều đại Nguyên Mông này cũng hai lần huy động chiến thuyền xâm lăng Nhật Bản vào năm 1274 và năm 1281 thì hai cơn bão Thần Phong đánh tan cả hạm đội ở nửa đường.
Lịch sử cho thấy triều đại mạnh nhất của Trung Hoa phải bó tay thất trận ở khi đối đầu cùng Việt Nam và Nhật Bản. Lịch sử có cơ tái diễn chăng?
Ngày nay vào lúc người Cộng Sản Việt Nam đã thống nhất đất nước để Mỹ ra đi cho Bắc Kinh có cơ hội bành trướng, liệu Việt Nam có làm được con sóng thần để ngăn hạm đội Trung Quốc chiếm hữu biển Đông và đóng dàn khoan hút hết tài nguyên nhiên liệu của mình hay không? Đó là một câu hỏi lớn mà thế giới đang quan sát hành động của Hà Nội để tìm câu trả lời.
Hôm nay, thứ tư, 16 tháng 1, là ngày Thủ tướng Shinzo Abe đến Việt Nam trong chuyến công du ngoại quốc đầu tiên từ khi ông trở thành Thủ tướng Nhật Bản, với mục đích thắt chặt quan hệ kinh tế và an ninh giữa Nhật với các nước trong khu vực. Hôm qua Mỹ và Nhật mở cuộc thao dượt 5 ngày phối hợp không quân hải quân. Hai ngày trước đó quân đội Nhật cũng tập trận ở gần thủ đô Tokyo, với mục đích lượng định khả năng phòng vệ vùng đảo Senkaku. Hôm thứ tư cũng có tin Nhật Bản có thể sẽ đặt hệ thống radar di động và hệ thống liên
kilo-class-sub
1 trong 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga bán cho Việt Nam- wareye.com photo
lạc ở gần quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư.  Trước đó lại có tin Nhật Bản đang xem xét bố trí các chiến đấu cơ F-15 tại đảo Shimoji gần Senkaku.
Việc Thủ tướng Nhật đi Việt Nam,Thái Lan, Indonesia là dấu hiệu quan trọng vào lúc này, trong khi Việt Nam còn khá nhún nhường đối với Trung Quốc, ngoại trừ sự phản đối ngoại giao hôm thứ hai là hành động tối thiểu phải làm. Vấn đề an ninh khu vực nằm trong nghị trình thảo luận của Thủ tướng Shinzo Abe với những người tương nhiệm của ba quốc gia có vị trí địa dư bao vây Trung Quốc gần xa.
Và nếu ta nhớ rằng Trung Quốc nhiều lần phản đối việc hải quân Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Australia tập trận chung, Hoa Kỳ yểm trợ khí cụ quốc phòng và huấn luyện quân sự cho Philippines, Singapore, Indonesia, huấn luyện cả hải quân Việt Nam, thì có lẽ Trung Quốc không thể coi thường việc khả dĩ Nhật Ấn Độ và Úc xếp hàng chung với Việt Nam để chờ họ ở biển Đông, với điều kiện những người Cộng Sản Việt Nam cần giữ nước hơn giữ Đảng, cùng toàn dân một lòng chống xâm lăng.
Mong sao vào giờ phút tối hậu, Việt Nam sẽ hết "nhún nhường" để có phản ứng mạnh mẽ và thích đáng.
Mong sao giờ phút tối hậu ấy chỉ đến vào lúc hải quân và không quân Việt Nam có đủ tàu bè khí cụ để chiến đấu bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải, nhất quyết không nhường thêm đất biển cho quân bành trướng.

Sunday, January 20, 2013

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa


Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa

EmailIn
Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa
  
  
  
Images intégrées 1
  
Khi nói đến chủ quyền của hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa, thì cho dù là phía đảng Cộng sản Hà Nội, và ngay những người đã và đang chống đối người đã sáng lập ra Thể Chế Cộng Hòa, và cũng là vị Tổng Tư Lệnh Đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa; đồng thời là người lãnh đạo Nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam:  Cố tổng Thống Ngô Đình Diệm, cũng không phủ nhận được những sự kiện đã được khắc ghi vào bia đá của lịch sử:

Ngoài những sự kiện lịch sử hiển nhiên ấy, thì không một ai phủ nhận được một chứng tích lịch sử về chủ quyền trên đảo Hoàng Sa. Đó là, tấm hình chụp Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đi thăm viếng đồng bào tại Cù Lao Lý Sơn, tức Cù Lao Ré, thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Quả đúng như thế, vì ngay sau khi ổn định được những nạn sứ quân cát cứ, vượt qua những thử thách, khó khăn do những âm mưu của ngoại nhân cố tình phá hoại, cho đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956;  sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp - Hành Pháp và Tư Pháp.

Lịch sử đã khắc ghi, năm 1954, căn cứ theo Hiệp định Genève về Việt Nam, thì  trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt nam Cộng Hòa. Tháng 4-1956, khi quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã ra tiếp thu các đảo và quần đảo trên Biển Đông. Kể từ 1956, về pháp lý và trên thực tế chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục có nhiều hành động công khai để khẳng định trước cả thế giới về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Ngày 22-8-1956, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa, dựng cột đá chủ quyền và treo lá Cờ vàng Ba Sọc Đỏ trên các đảo. Ngày 22-10-1956, Sắc lệnh số 143/NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại miền Nam. Trong danh sách các đơn vị hành chính theo Sắc lệnh đó có Bà Rịa-Vũng Tàu được đổi thành tỉnh Phước Tuy và đảo Hoàng Sa (Sắc lệnh chú thích là Spratly) trong quần đảo Trường Sa thuộc về tỉnh Phước Tuy cùng tên với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) ở phía bắc. Ngày 13-7-1961, Sắc lệnh số 174/NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Đình Diệm đã đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, (nay thuộc tỉnh Quảng Nam).
  
Ngoài những sự kiện ấy, để khẳng định một cách đanh thép trước cả thế giới về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa trên các quần đảo Hoàng Sa. Vì thế,  nên vào năm 1961, chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đích thân ra thăm viếng Cù Lao Ré (tức Cù Lao Lý Sơn), như tấm hình chụp ở phía trên của bài viết, là một chứng tích, để mãi mãi, đời đời cho hậu thế còn tưởng nhớ đến những bước chân lưu dấu lịch sử của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
  
Và ngoài những sự kiện lịch sử ấy, trong khi ở ngoài Bắc, của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, thì chẳng riêng là "lịch sử" do đảng Cộng sản viết, mà những kẻ được cho là "nhà báo, nhà văn-nhà thơ đã từng viết về đất nước Việt Nam là: "từ Hà Giang hoặc từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau". Nhưng tại đất nước Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ đã cho in những con tem có in hình một bản đồ của nước Việt Nam trọn vẹn từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; và Bộ Quốc Gia Giáo Dục Đệ nhấtViệt Nam Cộng Hòa còn có những sách Giáo Khoa, cho học sinh từ lớp tư, lớp ba ở bậc tiểu học phải học về địa lý như sau:

Nước Việt Nam hình cong chữ S, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; hoặc bài thuộc lòng:

Từ Nam Quan, đến Cà Mau
Non sông gấm vóc, nghèo giàu kết thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Ra ngoài chị ngã, em nâng ngay vào.
Núi kia ai đắp nên cao,
Tình Dân Tộc, nghĩa Đồng Bào thiết tha.
Cùng nhau chung một mầu da,
Cùng dòng máu Việt, một nhà Lạc Long.
Chúng ta dòng giống Tiên Rồng,
Đừng quên rằng: Bắc-Nam-Trung một nhà.
  
Qua những bài học cho học sinh từ bậc tiểu học, đã cho mọi người hiểu được: Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đã KHÔNG ký vào Hiệp định Genève, 1954 về Việt Nam, cho nên không chấp nhận sự chia cắt đất nước. Bởi vậy, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm của  Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa đã có mưu cầu Bắc tiến, để giải cứu đồng bào miền Bắc đang phải sống dưới chế độ Cộng sản vô thần, mà qua đó, chúng ta đã  từng nghe nhạc sĩ Lam Phương đã viết lên những lời tha thiết :
"Anh cùng em xây một nhịp cầu, để mai đây, quân Nam về Thăng Long đem thanh bình về sưởi ấm muôn lòng".

Lịch sử vốn như ánh mặt Trời. Vì thế, cho nên bàn tay của con người không bao giờ che khuất được những sự thật lịch sử ấy. Nên biết và nên nhớ: Sắc lệnh của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Đình Diệm đã công bố vào ngày 13/7/1961, trước cả thế giới, với Sắc lệnh này, chính phủ của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã khẳng định chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa. Đồng thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã cho xây dựng Bia Chủ Quyền trên cả quần đảo Trường Sa.

"Ẩm thủy tư nguyên", hay Uống nước nhớ nguồn - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Vậy, những người đã và đang núp dưới chiếc bóng và cũng là vầng hào quang của nước Việt Nam Cộng Hòa-Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa- Chiến Sĩ Cộng Hòa và các tổ chức "chính trị- tranh đấu"  dưới danh nghĩaViệt Nam Cộng Hòa. Tất cả những người ấy, nếu còn có chút lương tri của một con người thật sự, thì không bao giờ cho phép mình được quên rằng: Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm; Người đã tận hiến cả đời mình đối với Tổ Quốc và Dân Tộc - Người đã khai sáng Thể Chế Cộng Hòa Việt Nam, và là người đã từng khẳng định trước cả thế giới về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa; và cũng chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm; Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa.

Paris, 14/10/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
--------------------------------------------------


Đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam

 
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) là chính phủ của Việt Nam Cộng hòa được thành lập sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 ở miền Nam Việt Nam. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý là quốc trưởngBảo Đại Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bị truất phế và chính thể Quốc gia Việt Nam bị giải tán. Thay vào đó thủ tướng Ngô Đình Diệm đứng ra lập nền cộng hòa với lập trường chống cộng sản. Năm 1956 Quốc hội Lập hiến chính thức soạn một hiến pháp mới và khai sinh nền cộng hòa. Được sự hậu thuẫn của Mỹ và các nước Tây phương, nền Đệ nhất Cộng hòa đã thành công trong việc thống nhất quyền lực, dẹp các lực lượng vũ trang giáo phái Cao ĐàiHòa Hảo và diệt nhóm Bình Xuyên.






Images intégrées 3Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 của
Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm
 
Images intégrées 4
Bia chủ quyền Việt Nam dựng trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa
(1961)

Images intégrées 5
Hình tem bản đồ Việt Nam Cộng Hòa từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau

Images intégrées 6


Images intégrées 7 
Images intégrées 8

Images intégrées 9

Images intégrées 10

Images intégrées 11

Images intégrées 13

Images intégrées 14

Images intégrées 15

Images intégrées 16

Images intégrées 17

Images intégrées 18

Images intégrées 19
Chiến Sĩ Cộng Hòa
Images intégrées 20


Vinh danh liệt sỹ Hoàng Sa


Vinh danh liệt sỹ Hoàng Sa

Cập nhật: 16:00 GMT - thứ năm, 17 tháng 1, 2013
Hoàng Sa
Cách đây 39 năm, hải quân Việt Nam Cộng hòa đã có trận giao tranh ác liệt với hải quân Trung Quốc tại một số đảo thuộc Hoàng Sa, khi đó do chính quyền Sài Gòn nắm giữ.
Sau trận hải chiến ngày 19/1/1974, Trung Quốc chiếm hoàn toàn Hoàng Sa.
Trên 70 chiến sỹ hải quân của VNCH đã tử trận, trong đó có Trung tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng tàu Nhật Tảo, người đã cùng chìm với chiến hạm của mình.
Cựu phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, nguyên Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải là một trong các chỉ huy trận hải chiến, nói chuyện với BBC nhân dịp kỷ niệm này.
Ông Hồ Văn Kỳ Thoại: Mỗi năm cứ sắp đến Tết thì tôi lại rất buồn, không thể nào quên các anh em đã mất tại Hoàng Sa.
Lúc đó hải quân Việt Nam Cộng hòa đã làm nhiệm vụ cần làm. Cường quốc kia thì bất chấp luật lệ quốc tế cũng như toàn vẹn lãnh thổ của nước khác nên gây ra sự kiện rất đau buồn này.
BBC: Năm nay bên California có tổ chức hoạt động gì để kỷ niệm ngày này không, thưa ông?
Ông Hồ Văn Kỳ Thoại: Hầu hết các thành phố lớn, đông người VNCH đều có tổ chức, và đặc biệt hải quân VNCH cũng tổ chức. Những nơi như San Jose hay Nam California, rồi Washington DC và Houston, Texas,... đều có tổ chức cá clễ tưởng niệm và vinh danh các chiến sỹ hải quân đã hy sinh ngày 19/1/1974.
Lần nói chuyện trước với BBC tôi có ước mong một điều [là các liệt sỹ VNCH hy sinh ở Hoàng Sa cũng được vinh danh ở trong nước].
Sau đó tôi có được nghe rằng các báo cũng nói thêm vào, và chính quyền Hà Nội có định làm một tượng đài ở Đà Nẵng.
Lễ kỷ niệm trận hải chiến ở Hoa Kỳ
Lễ kỷ niệm trận hải chiến ở Hoa Kỳ
Thế nhưng tới nay tôi chưa nhìn thấy chứng cứ hay hình ảnh nào cho việc này.
Rồi có người hỏi xin danh sách, tôi cũng chuyển cho họ danh sách anh em đã hy sinh trong trận đánh đó. Nhưng cũng chưa thấy có việc gì được xúc tiến.
Tôi nghĩ đây là việc nên làm, vì đây là sự hy sinh của người công dân Việt Nam. Cần xúc tiến càng sớm càng tốt, để đỡ sự buồn tủi cho gia đình các chiến sỹ ̣đã hy sinh.
BBC: Đã gần 40 năm, số nhân chứng của sự kiện này chắc cũng đang dần mai một, và thời gian chẳng còn nhiều ạ...
Ông Hồ Văn Kỳ Thoại: Đúng là như vậy. Ở bất cứ quốc gia nào người ta cũng phải có hành động ghi nhận sự thật, sự hy sinh này. Rất buồn nếu như chính quyền không để ý tới điều đó.
Tôi có được xem hình ảnh, thì ở trong nước họ chỉ tổ chức một số buổi kỷ niệm rất nhỏ, trong căn phòng nhỏ, chỉ là tượng trưng chứ không phải sự ghi ơn.
BBC: Thưa ông có nghe tin tức gì từ bà quả phụ Ngụy Văn Thà không ạ? (Trung tá Ngụy Văn Thà là hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo, người đã hy sinh anh dũng khi chiếc tàu của ông bị Trung Quốc bắn chìm)
Ông Hồ Văn Kỳ Thoại: Có, chúng tôi ở tổng đội hải quân bên này mỗi năm đều có thăm hỏi và gửi tiền về giúp, nói chuyện đều đều với bà Ngụy Văn Thà. Anh em hải quân ỡ khắp năm châu cũng cố gắng giúp, không nhiều thì it́.
Và không chỉ bà Ngụy Văn Thà, chúng tôi còn cố gắng giúp gia đình thiếu tá Nguyễn Thành Trí, là người hạm phó nữa.
BBC: Gần đây chắc ông theo dõi truyền thông cũng biết về các hoạt động cấp tập mới đây của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Không hiểu ông suy nghĩ thế nào?
Ông Hồ Văn Kỳ Thoại: Thông thường thì bao giờ cũng có việc các nước lớn chèn ép các nước nhỏ hơn, bất chấp luật lệ quốc tế, các hiệp định hiệp ước quốc tế, luôn luôn là như vậy.
Các quốc gia nhỏ hơn thông thường thì phải chịu thôi.
Nhưng có một điều tôi không hiểu được, là khi một nước lớn xâm lược, đưa hải quân chiếm đảo, lấy đất của một quốc gia nhỏ bé, rồi sát hại thủy thủ, bắt giết ngư dân ngoài khơi, mà họ đưa chiến hạm vào, vẫn được tiếp đón.
Vừa rồi ba chiến hạm của Trung Cộng vào được đón tiếp bằng thảm đỏ, rồi sỹ quan bên này bắt tay sỹ quan bên kia... tôi thật không hiểu làm sao. Và quốc tế nhìn vào, tôi cũng nghĩ họ không hiểu được.
BBC: Vậy theo ông, [Việt Nam] phải làm gì ạ?
Ông Hồ Văn Kỳ Thoại: Bây giờ thì chỉ cầu mong làm sao quốc tế nỗ lực để các quốc gia tuân thủ các hiệp ước, hiệp định, không để nước lớn tự đàn áp các nước nhỏ hơn.
Tình hình như thế này thì các nước nhỏ như Việt Nam, Malaysia, Philippines, Đài Loan... sẽ đều phải chịu những sự chèn ép cục bộ, gây đe dọa an ninh cho các vùng biển, kể cả các vùng biển quốc tế chứ không chỉ riêng Biển Đông.
BBC: Thế còn sự can thiệp của các nước lớn thì sao thưa ông? Chính ông cũng từng chứng kiến thời kỳ cuộc hải chiến 1974, Hạm đội 7 của Hoa Kỳ cũng chỉ đứng nhìn chứ không chịu tham chiến ạ.
Cựu phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại
Cựu phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là người đã ra lệnh khai hỏa trận chiến 19/1/1974
Ông Hồ Văn Kỳ Thoại: Thì cũng chỉ trông mong vậy thôi, chứ nước lớn họ có chiến lược của họ, chứ không phải thấy sự bất công thì họ vào giúp mình đâu.
Chỉ khi đụng vào quyền lợi của họ thì họ mới xen vô mà giải quyết.
Thực ra bây giờ [trong khu vực] chỉ có hai cường quốc là Trung Cộng và Hoa Kỳ. Chừng nào Hoa Kỳ thấy có quyền lợi ở trong đó thì họ mới xía vào. Mấy năm trước, bà Hillary Clinton có tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có quan hệ tới quyền lợi của nước Mỹ.
Nhưng cũng chưa thấy có hành động gì tiếp theo cả.
BBC: Vậy thì vào lúc này, có nên đặt vấn đề lấy lại quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam từng nắm kiểm soát không ạ?
Ông Hồ Văn Kỳ Thoại: Có lẽ phải chờ các nỗ lực ngoại giao, và phải có Hoa Kỳ tham gia trực tiếp, thì hy vọng Trung Quốc mới thay đổi thái độ.
Thường thường trong lịch sử tôi thấy điều này rất khó khăn, mất thời gian, trừ khi có một cuộc đại chiến thì mới có một sự trao đổi lãnh thổ.
Chứ bình thường, nhất là khi có một cường quốc ăn ngang nói ngược như Trung Quốc, thì khó xoay chuyển tình thế lắm. Đặc biệt là họ đã xây dựng cơ sở hạ tầng kiên cố trên đó rồi thì không dễ gì mà họ buông ra đâu.