Saturday, March 31, 2012

Phỏng vấn giáo sư Vũ Quốc Thúc về quan hệ Việt-Trung

Phỏng vấn giáo sư Vũ Quốc Thúc về quan hệ Việt-Trung
Giáo sư Vũ Quốc Thúc trả lời phỏng vấn RFI ngày 08/03/2012.
Giáo sư Vũ Quốc Thúc trả lời phỏng vấn RFI ngày 08/03/2012.
Thanh Phương
Thanh Phương
Giáo sư Vũ Quốc Thúc là một nhà trí thức đã từng trải qua biết bao thăng trầm của thời cuộc Việt Nam. Tốt nghiệp tiến sĩ Luật và thạc sĩ đại học Kinh tế Pháp, ngoài việc giảng dạy ở đại học suốt từ những năm 1950, ông cũng đã từng giữ những chức vụ quan trọng dưới hai nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa: Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Cố vấn Phủ Tổng thống, Quốc vụ khanh phụ trách tái thiết và phát triển... Tên tuổi của giáo sư Vũ Quốc Thúc cũng gắn liền với Kế hoạch Hậu chiến Lilienthal-Vũ Quốc Thúc (1968).
Sang Pháp tỵ nạn từ cuối thập niên 1970 và hiện vẫn sống ở ngoại ô Paris, giáo sư Vũ Quốc Thúc, năm nay dù đã sang tuổi 92, vẫn theo dõi rất sát thời sự quốc tế và trong nước, cũng như vẫn không ngớt trăn trở về tiền đồ của dân tộc, nhất là trong bối cảnh mà hiểm họa Trung Quốc ngày càng đè nặng lên Việt Nam.
Chính mối ưu tư của một học giả yêu nước thương dân đã thúc đẩy giáo sư Vũ Quốc Thúc tham gia ký tên cùng với 35 nhà trí thức hải ngoại vào bức Thư ngỏ gởi các nhà lãnh đạo Việt Nam về hiểm họa ngoại bang và sức mạnh dân tộc. Do việc tham gia ký tên bức thư ngỏ này mà ông đã bị một số người ở hải ngoại chỉ trích, nhưng đối với giáo sư Vũ Quốc Thúc, đó là cái giá mà một nhà trí thức dấn thân sẳn sàng trả, vì sự tồn vong của đất nước.
Qua sự sắp xếp của giáo sư Nguyễn Thái Sơn ở Paris, chúng tôi đã có dịp thực hiện một cuộc phỏng vấn rất dài với giáo sư Vũ Quốc Thúc vào ngày 8/3 vừa qua tại nhà riêng của giáo sư Thái Sơn.
Tuổi đã quá cửu tuần, nhưng giáo sư Vũ Quốc Thúc vẫn còn khoẻ, thậm chí tự mình đi xe lửa và métro đến chỗ hẹn, không cần ai chở đến! Giống như vào những năm tháng còn đứng trên bục giảng đại học, càng nói, giọng của ông càng hùng hồn, khi thế của ông càng hăng say, như thể là bầu nhiệt huyết tuổi thanh xuân vẫn còn nguyên vẹn trong con người của bậc trưởng lão này.
Hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu đến quý vị một phần của cuộc phỏng vấn với giáo sư Vũ Quốc Thúc, chủ yếu nói về những suy nghĩ của một nhà trí thức hải ngoại về quan hệ Việt- Trung xưa và nay:

Giáo sư Vũ Quốc Thúc
 
19/03/2012
 
 

RFI: Xin kính chào giáo sư Vũ Quốc Thúc. Trưóc hết, ông có nhận định thế nào về nguy cơ bành trướng của Trung Quốc đối với Việt Nam?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Chúng ta không thể không lo ngại trước những mưu toan bành trướng của người bạn láng giềng phương Bắc. Nếu nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy rằng trong bao nhiêu thế kỹ nay, chính quyền ở Trung Quốc luôn tìm cách bành trướng lãnh thổ về phương Nam. Vì điều kiện địa lý chính trị, Việt Nam chúng ta ngay từ đầu, khi thì là tiền đồn để người bạn phương Bắc tiến về phương Nam, nhưng cũng có lúc là cái nút chặn con đường bành trướng thế lực của họ về phương Nam.

Qua lịch sử, tôi rất lấy làm hãnh diện là tổ tiên chúng ta đã không ngần ngại chống lại những mưu toan xâm lăng của láng giềng phương Bắc, mặc dù biết rõ tương quan lực lượng vô cùng bất lợi cho chúng ta, đã khéo léo lợi dụng những ưu điểm về địa thế để luôn luôn đánh bại được họ.

Nên nhớ rằng hồi đó trên trường quốc tế, chúng ta chỉ là một nước nhỏ yếu, đâu biết trông cậy vào ai, mà phải luôn đối phó với một láng giềng mạnh hơn chúng ta rất nhiều. Đọc lại lịch sử, chúng tôi thấy tổ tiên chúng ta đã khéo léo, biết lúc cương, lúc nhu, làm như là chịu cái quyền của láng giềng phương Bắc về mặt lý thuyết, nhưng trên thực tế không bao giờ để cho họ trực tiếp đô hộ chúng ta.

RFI: So sánh cách chính sách ngày nay của các lãnh đạo Việt Nam với cách đối phó của ông cha ta trước đây?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Mỗi thời đại, chúng ta phải dựa vào những cái gì là ước lệ chung trên trường ngoại giao. Ngày xưa, chỉ có Trung Quốc lớn mạnh và chúng ta, với một số nước nhỏ yếu khác ở vùng Nam Á. Lúc đó, chúng ta phải viện vào cái gì đễ giữ không cho Trung Quốc xâm lăng? Chúng ta đã dựa ngay vào cái văn hóa của Trung Quốc, vào cái lễ nghi của Trung Quốc, vào thể chế dựa trên nguyên tắc phong kiến của Trung Quốc.

Ngày nay, trái lại, đã có luật quốc tế và hơn nữa, chúng ta đã có một vị thế ngoại giao có thể nói là khá mạnh. Tôi nhớ là vào năm 2007, Việt Nam được bầu làm hội viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ với một đa số gần như là 80-90% hội viên LHQ. Như vậy về mặt ngoại giao đã có hai thắng điểm so với ngày xưa: các công ước quốc tế và cảm tình của các nước LHQ đối với ta.

Nhưng lịch sử cũng cho ta thấy là khi một nước nào có ý đồ bành trướng thì lắm khi họ bất chấp luật lệ quốc tế, bất chấp sự phản đối của dư luận quốc tế, muốn đặt quốc tế trước sự đã rồi. Chính vì thế chúng ta bao giờ cũng phải cảnh giác. Tôi vẫn nhớ câu ngạn ngữ La Tinh “ Nếu anh muốn hòa bình thì anh phải chuẩn bị chiến tranh”. Chính vì thế phải bồi dưỡng nội lực của mình, để có thể chống lại họ nếu cần.

Tôi không phải là một nhà quân sự, nhưng tôi thấy rằng với những phương tiện hiện đại sát thương hàng loạt, chúng ta có thể bị áp đảo trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy rằng không một cường quốc nào có thể chiếm đóng lãnh thổ một nước khác, khi mà nhân dân nước đó không cam chịu. Bởi vì khi nhân dân kết đoàn thành một khối, thì bằng cách này hay cách khác, ta có thể tiêu diệt dần dần, làm hao mòn lực lượng của kẻ chiếm đóng và rốt cuộc thì kẻ chiếm đóng phải ra đi và lắm khi phải ra đi trong tuổi nhục.
 
RFI: Nhưng kịch bản có thể dễ xảy ra hơn là Trung Quốc sẽ chiếm toàn bộ quần đảo Trường Sa? Làm cách nào để ngăn chận?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Chính vì thế mà tôi rất mừng là có sự trở lại ở Á châu, nhất là ở vùng Đông Nam Á, của đệ nhất siêu cường Hoa Kỳ. Tôi cảm thấy là Hoa Kỳ đang có tham vọng ( tham vọng đó là chính đáng, chứ không vô lý ), đó là thiết lập một trật tự mới cho toàn cầu và trong trật tự mới đó, Hoa Kỳ sẽ chú tâm đặc biệt hơn đến vùng Thái Bình Dương và cả Đông Nam Á, cho rằng đó là vùng sẽ đóng vai trò then chốt trong tương lai.

Cho nên, trong giai đoạn khó khăn này, tôi rất mừng là giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sự bang giao càng ngày càng thắm thiết hơn. Nhờ bang giao thân hữu với Hoa Kỳ, nhờ sự trở lại của Hoa Kỳ, nhờ ý thức quyền lợi chung là phải cộng tác với nhau để khai thác tài nguyên biển và nhất là để bảo đảm tự do lưu thông hàng hải, nên tôi không e ngại chuyện Trung Quốc lấn át chúng ta.

Nhưng năm 1974, Trung Quốc đã lợi dụng tình trạng quốc tế lúc ấy chưa rõ ràng, cho rằng Hoa Kỳ đã bỏ đi, không nước nào ở Tây phương can thiệp vào Đông Nam Á nữa, đặt thế giới trước sự đã rồi, chiếm đóng Hoàng Sa. Chuyện đó rồi đây sẽ phải giải quyết bằng thương lượng và nếu cần, đưa ra trước một cơ quan quốc tế nào đó.

Ta đừng nghĩ là Trung Quốc mạnh. Nếu đem hải quân của họ chống Hải quân Hoa Kỳ thì chẳng khác gì đem một cái gì mong manh chọi với một tảng đá lớn. Tôi tin rằng những người cầm đầu ở Trung Quốc, nhất là những người chỉ huy hải quân không dại gì đi vào con đường nguy hiểm đó. Cho nên, tôi tin rằng nếu Hoa Kỳ trở lại và bắt tay với Việt Nam thì ta không ngại gì.

RFI: Phải chăng do sự ràng buộc giữa hai đảng Cộng sản, giới lãnh đạo Việt Nam bị bó tay trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Tôi cũng đã nhìn thấy từ lâu hiểm hoạ Bắc thuộc. Họ không cần chiếm đóng mình, mà họ lợi dụng chủ nghĩa Mác- Lênin, bổ túc thêm tư tưởng Mao Trạch Đông, họ viện lý do liên đới giữa các Đảng Cộng sản, để tự coi họ là Cộng sản đàn anh và  Việt Nam là Cộng sản đàn em. Bất lợi cho chúng ta là vào năm 1990, sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, chế độ Cộng sản Âu châu trên đường tan rã, những người cầm đầu Đảng Cộng sản Việt Nam lúc đó đã sang Thành Đô, chấp nhận khuất phục Đảng CS Trung Hoa. Tôi không rõ về chi tiết của những cam kết, nhưng tôi được biết rằng Đảng CS Việt Nam đã chấp nhận theo đúng đường lối của Đảng CS Trung Hoa

Đến bây giờ, vì sợ hãi đàn Đảng Cs đàn anh như thế cho nên giới lãnh đạo Việt Nam luôn luôn cứ ngoài mặt thì phản đối dựa trên những nguyên tắc luật lệ quốc tế, nhưng bên trong chẳng qua chỉ phản ứng lấy lệ và luôn luôn phục tùng Đảng CS Trung Quốc.

Chính vì thế mà tôi đã từng đề nghị là phải cắt đứt dây xích ràng buộc Đảng CS Việt Nam vào Đảng CS Trung Quốc. Tại sao họ lại dựa vào  Đảng CS Việt Nam để nắm toàn dân Việt Nam? Là vì thể chế chung của các nước CS là Đảng CS nắm độc quyền toàn trị trên đất Việt Nam. Dân chủ chỉ là hình thức.

Đảng CS Việt Nam trước tiên phải trả lại quyền làm chủ thật sự cho nhân dân, chứ không phải chỉ thay đổi một số luật lệ. Họ có thể sửa đổi Hiến pháp, đưa ra một số luật về bầu cử, về chính đảng, nhưng sẽ chỉ là hình thức. Dân chủ phải là trong tinh thần, trong tác phong. Từ những người cầm đầu cho đến nhân dân, ai cũng phải có tinh thần dân chủ. Phải có ý chí dân chủ, thì lúc bầy giờ mới thực hiện được chế độ dân chủ thật sự.

Bây giờ không phải là thời buổi mà nhân dân xem những người cầm đầu là phụ mẫu của mình nữa. Những người cầm đầu là do dân bầu ra, đại diện cho nhân dân, được giao nhiệm vụ quản trị đất nước. Nhưng họ phải chịu trách nhiệm của họ. Nhân dân vẫn là làm chủ và làm chủ thật sự.

Mà khi tôi nói nhân dân là nói toàn thể nhân dân, không chỉ người sống ở quốc nội. Đừng quên rằng có đến 3 triệu người hiện đang sống ở hải ngoại. Họ là dân Việt Nam, thì trước hết họ có bổn phận và có quyền yêu nước. Tại sao lại có những người coi rằng yêu nước là độc quyền dành cho một phe đảng? Đừng quên rẳng chính nhờ tinh thần dân tộc, mà đất nước ta mới tồn tại cho đến ngày hôm nay. Tình thần dân tộc ấy dựa trên ý chí sống chung, dựa trên ý thức trách nhiệm, dựa trên cái ký ức cả một quá trình tranh đấu qua bao thế kỹ.

Tôi cũng là một người sống ở hải ngoại, cho nên tôi vẫn coi tôi như là dân Việt. Đừng tưởng rằng tôi sống ở hải ngoại thì tôi không có cách gì để tham gia vào sinh hoạt chính trị trong nước. Không! Chúng ta sống vào một thời đại có những tiến bộ rất ngoạn mục về kỹ thuật truyền thông. Ở đâu tôi cũng vẫn theo dõi được tình hình chính trị trong nước, góp ý kiến và nếu cần, đưa những ý kiến ấy về nước để gây nên những phong trào trong nước.

RFI: Vì sao ông đã tham gia ký tên vào bức thư ngỏ của các trí thức hải ngoại gởi các lãnh đạo Việt Nam, cho dù bị chỉ trích là công nhận chế độ hiện nay?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Tranh đấu không phải lúc nào cũng bằng võ lực, mà ngày nay ta phải sử dụng những võ khí mới mà tiến bộ kỹ thuật mang lại cho chúng ta. Cũng chính vì thế mà sau khi xảy ra các cuộc cách mạng màu ở Đông Âu, tôi đã có bài phân tích liệu cách mạng nhung có thể xảy ra ở Việt Nam hay không.

Những người đối lập có thể tấn công trước hết là với lợi khí thông tin và nhất là phải đưa những ý kiến của mình về truyền bá trong nước, làm biến chuyển tâm lý của nhân dân trong nước và kể cả tâm lý của những người đang nắm quyền. Họ cũng là người Việt Nam. Dù muốn dù không, họ không thể nào gạt bỏ tinh thần dân tộc, mà trong đó lòng yêu nước là chuyện tự nhiên.

Những người ở hải ngoại có thể có những hành động đi thẳng vào tâm lý của những người trong nước, khích động tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, khiến cho họ thức tỉnh. Chính vì lý do mà tôi đã không ngần ngại ký tên vào bức thư ngỏ. Mà khi gởi bức thư ngỏ đó đi thì nhiều người nghĩ rằng đó là công  nhận thế chế hiện thời với sự lãnh đạo của Đảng CS, thì tôi xin nói ngay: Ta không thể quay lưng vào thực tế. Hành động thì phải dựa trên hoàn cảnh thực tế. Nếu hành động mà cứ nhìn vào quá khứ, tưởng như là quá khứ đó vẫn còn cho đến ngày hôm nay, thì làm sao tranh đấu được?

Tôi không bao giờ phân biệt trí thức với nhân dân, mà chúng ta là những công dân giống nhau. Những người được gán cho là “trí thức” ấy, chẳng qua có thể là họ am hiểu tình hình hơn. Ở ngoại quốc này, nếu theo dõi thông tin thì có thể biết rõ tình hình thế giới, còn trái lại những người trong nước, dù có bằng cấp đến đâu đi nữa, mà không được thông tin đều đặn thì, vẫn không am hiểu tình hình thế giới, mà ngay cả tình hình trong nước cũng chưa chắc là nắm rõ. Một khi không hiểu như thế thì có đáng gọi là trí thức hay không?

Chính vì thế mà những người ở hải ngoại, dù có bằng cấp hay không bằng cấp, nhưng một khi đã am hiểu tình hình thì phải dám dấn thân. Nói rằng đi bước trước như thế có nghĩa là khuất phục Đảng CS Việt Nam, thì chẳng qua đó chỉ là đạo đức giả, để biện minh cho việc không dám dấn thân. Một khi đã hiểu rõ tình hình, thì phải ý thức cái trách nhiệm của mình, mà trách nhiệm của mình là lắm khi phải xung phong đi, phải dấn thân đi, phải nhảy xuống vũng bùn đi. Người ta còn có thể hy sinh được tính mạng, còn mình chỉ sợ những lời chỉ trích mà không dám làm, thì có phải là có lỗi với dân tộc hay không?

RFI: Xin cám ơn giáo sư Vũ Quốc Thúc.

TS Nguyễn Nhã phản bác Trung Quốc về Hoàng Sa-Trường Sa

TS Nguyễn Nhã phản bác Trung Quốc về Hoàng Sa-Trường Sa
Một trong những đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Một trong những đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Reuters
Thanh Phương
Bộ phim tư liệu “Một đời nghiên cứu”, nói về những đóng góp của tiến sĩ Nguyễn Nhã trong việc nghiên cứu về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa vừa được tặng thưởng giải Cánh diều bạc 2012.
Giải này không chỉ là tặng thưởng cho người thực hiện bộ phim, đạo dìễn Phạm Xuân Nghị (Hãng Phim truyền hình TP Hồ Chí Minh), mà còn là sự ghi nhận, tuy là quá muộn màng, công lao quý báu của ông Nguyễn Nhã, một nhà sử học giàu lòng yêu nước, đã bỏ ra rất nhiều năm để nghiên cứu về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền biển đảo của Việt Nam nói chung.
Luận án tiến sĩ của ông “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa”, được trình vào năm 2003, cho tới nay vẫn còn nguyên giá trị.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã thuyết trình về Hoàng Sa - Trường Sa tại Hà Nội ngày 24/9.
Những đóng góp của tiến sĩ Nguyễn Nhã càng có giá trị khi mà vấn đề tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa càng thêm gay gắt, với những hành động gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông, cũng như qua những bài báo đả kích Việt Nam đăng trên một số phương tiện truyền thông của Trung Quốc.
Bộ phim tư liệu “Một đời nghiên cứu” được trao giải đúng vào lúc mà Biển Đông tiếp tục dậy sóng, với vụ Trung Quốc ngày 3/3 vừa qua bắt giữ 21 ngư dân Việt Nam và đòi tiền chuộc. Việt Nam đã kêu gọi Bắc Kinh phóng thích ngay các ngư dân và đề nghị gia đình của họ đừng nộp tiền chuộc cho Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh thì lại lớn tiếng yêu cầu Việt Nam ngưng “đánh bắt cá trộm bất hợp pháp” trong khu vực mà họ cho là thuộc chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông.
Trước đó, ngày 22/2, một tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi đã bị tàu chiến Trung Quốc tấn công và tước đoạt toàn bộ tài sản, ngư cụ, đánh đập ngư dân. Gần đây nhất, theo tin từ báo chí trong nước, hai chiếc tàu Trung Quốc vừa bị phát hiện xâm nhập trái phép vịnh Nha Trang ngày 23/3...
Những hành động mới đây của Trung Quốc dĩ nhiên đã gây phẫn nộ dư luận Việt Nam, nhưng người dân Việt Nam nay không còn được xuống đường để phản đối Bắc Kinh. Thậm chí, kế hoạch vinh danh, tri ân những chiến sĩ hy sinh ở Gạc Ma, Trường Sa ngày 14/3/1988, theo dự kiến lẽ ra đã được tổ chức đúng ngày 14/3/2012, nhưng cuối cùng chính quyền lại ra lệnh hủy bỏ buổi lễ này.
Trong khi đó, báo chí Trung Quốc, cụ thể là tờ Hoàn Cầu Thời Báo, ngày 20/3 vừa qua, tiếp tục đả kích Việt Nam qua bài “Luật rừng vẫn ngự trị”, xem việc chính quyền tỉnh Khánh Hoà cho phép một số chư tăng của tỉnh này ra phục hồi Phật sự Trường Sa là một hành động "thách thức chủ quyền của Trung Quốc".
Trả lời phỏng vấn RFI hôm nay, tiến sĩ Nguyễn Nhã phản bác những lập luận nói trên của Hoàn Cầu Thời Báo. Sau đây mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã
 
26/03/2012
 
 


Trung Quốc yêu cầu Cam Bốt không thúc đẩy "quá nhanh" hồ sơ Biển Đông

Trung Quốc yêu cầu Cam Bốt không thúc đẩy "quá nhanh" hồ sơ Biển Đông

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào (trái) và thủ tướng Cam Bốt Hun Sen, Phom Penh, 31/03/2012
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào (trái) và thủ tướng Cam Bốt Hun Sen, Phom Penh, 31/03/2012
Reuters

Trọng Nghĩa
Ngày 31/03/2012, chủ tịch Hồ Cẩm Đào yêu cầu thủ tướng Cam Bốt Hun Sen không nên thúc đẩy “quá nhanh” các cuộc thảo luận về Biển Đông. Lãnh đạo Trung Quốc đồng thời loan báo các khoản viện trợ mới và cam kết nâng trao đổi thương mại song phương lên mức 5 tỷ đô la.

Theo hãng tin Anh Reuters, lãnh đạo Trung Quốc đã đề cập đến những vấn đề trên với thủ tướng Cam Bốt nhân cuộc tiếp xúc song phương đầu tiên ngày hôm nay 31/12/2012. Phát biểu với báo chí sau cuộc họp, ông Sry Thamrong, cố vấn của thủ tướng Hun Sen cho biết là ông Hồ Cẩm Đào đã nói với ông Hun Sen rằng Trung Quốc rất muốn hướng tới việc đúc kết một bộ quy tắc ứng xử tại vùng Biển Đông, nhưng một cách “không quá nhanh”, sao cho tranh chấp này không đe dọa tình hình ổn định trong khu vực.
Thủ tướng Cam Bốt được cho là đã tán đồng quan điểm của Bắc Kinh trên hồ sơ này. Theo ông Sry Thamrong, ông Hun Sen đã nói với ông Hồ Cẩm Đào rằng vào lúc các nước ASEAN khác có khả năng sẽ nêu vấn đề Biển Đông tại Hội nghị Thượng đỉnh của khối ASEAN ở Phnom Penh trong hai ngày 03-04/04/2012, Cam Bốt chia sẻ lập trường của Trung Quốc là không nên "quốc tế hóa" vấn đề Biển Đông.
Hãng tin Pháp AFP đã trích dẫn nguyên văn câu nói của ông Sry Thamrong như sau : "Quan điểm của chúng tôi là mỗi nước có liên can nên giải quyết vấn đề trong khuôn khổ ASEAN và Trung Quốc, chứ đừng quốc tế hóa vấn đề... Nhưng Thủ tướng Hun sen cũng nói là chúng tôi cũng vướng phải khó khăn vì trong Hội nghị (ASEAN), nhiều lãnh đạo khác cũng sẽ nêu bật vấn đề và chúng tôi không thể cấm họ nói".
Hãng AFP nhắc lại : Cho đến nay, Bắc Kinh luôn chống lại việc quốc tế hóa hồ sơ Biển Đông mà chỉ muốn thương thuyết song phương với từng láng giềng yếu hơn mình, thay vì đàm phán chung với tất cả các nước.
Một số nhà quan sát cho rằng chuyến công du Cam Bốt trong 4 ngày của ông Hồ Cẩm Đào đã được quyết định nhằm chứng tổ quan hệ chặt chẽ giữa Bắc Kinh với chủ tịch ASEAN đương nhiệm, và có lẽ là để khuyến khích nước chủ nhà loại hồ sơ tranh chấp vùng biển ra ngoài chương trình nghị sự của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN, mở ra đúng 1 hôm sau khi ông Hồ Cẩm Đào rời Cam Bốt.
Cách đây không lâu, Phnom Penh từng tuyên bố là hồ sơ Biển Đông không nằm trong chương trình nghị sự chính thức của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần này.
Cam Bốt hiện là chủ tịch luân phiên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN, do đó có quyền hạn nhất định trong việc hoạch định chương trình các cuộc họp. Cam Bốt qua đó có ảnh hưởng đối với các cuộc thảo luận về việc giải quyết căng thẳng ngày càng tăng trong khu vực Biển Đông - hiện đang bị Trung Quốc tranh chấp với Đài Loan cùng 4 nước Đông Nam Á là Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia.
Trong thời gian qua, Việt Nam và Philippines đã liên tiếp tố cáo Bắc Kinh dùng võ lực để áp đặt chủ quyền của Trung Quốc trên vùng Biển Đông. Bắc Kinh tố cáo các láng giềng vi phạm chủ quyền của Trung Quốc mà theo họ, bao trùm lên gần như toàn bộ khu vực bên trong tấm bản đồ “lưỡi bò” chính thức công bố hồi năm 2009.
Theo các nhà quan sát, từ một chục năm qua, Trung Quốc đã dồn tiền bạc vào Cam Bốt để biến nước này thành một đồng minh thân cận. Cùng lúc với việc kêu gọi Phnom Penh “giúp đỡ” trong hồ sơ Biển Đông, lãnh đạo Trung Quốc đã tỏ ra rất hào phóng trong vấn đề tài trợ cho Cam Bốt.
Theo phát ngôn chính phủ Cam Bốt, ông Khieu Kanharith, lãnh đạo hai bên đồng ý tăng gấp đôi kim ngạch thương mại song phương lên thành 5 tỷ đô la vào năm 2017.
Theo chính quyền Cam Bốt, từ năm 1992 đến nay, Bắc Kinh đã cam kết tài trợ cho Phnom Penh hơn 2 tỷ đô la, chủ yếu là các khoản vay ưu đãi. Riêng trong năm 2011, đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Cam Bốt lên đến 1,19 tỷ đô la, gấp 10 lần so với mức đầu tư của Mỹ.
TAGS: BIỂN ĐÔNG - CAM BỐT - CHÂU Á - TRUNG QUỐC

Friday, March 30, 2012

Việt Nam khẳng định chủ quyền ở khu vực giao Ấn Độ thăm dò tại Biển Đông

Việt Nam khẳng định chủ quyền ở khu vực giao Ấn Độ thăm dò tại Biển Đông

Giàn khoan khai thác mỏ dầu Bạch Hổ (ảnh : pvn.vn).
Giàn khoan khai thác mỏ dầu Bạch Hổ (ảnh : pvn.vn).

Đức Tâm
Hôm nay, 30/03/2012, trong chuyến công du Ấn Độ, Phó thủ tướng Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân nói rằng việc Trung Quốc phản đối Ấn Độ tiến hành thăm dò dầu lửa tại các khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông là không phù hợp với các luật lệ của Liên Hiệp Quốc.

Theo Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Việt Nam sẽ chỉ thăm dò dầu khí tại những khu vực được cộng đồng quốc tế chấp nhận, và khu vực giao cho Ấn Độ thăm dò nằm trong vùng 200 hải lý, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ông nhấn mạnh với các nhà báo Ấn Độ : « Tôi có thể nói với các vị rằng không có tranh chấp về chủ quyền và lãnh thổ tại khu vực này ».
Khi được hỏi là liệu sự phản đối của Trung Quốc là sai trái hay không, Phó thủ tướng Việt Nam nói:  « Việc phản đối của Trung Quốc là công việc của họ và điều này không phù hợp với công ước quốc tế mà Trung Quốc là một trong các bên đã ký ».
Theo ông Nguyễn Thiện Nhân, Việt Nam và các nước khác, trong đó có Trung Quốc, đã ký Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982. Do vậy, Việt Nam có quyền đối với vùng biển 200 hải lý.
Phó thủ tướng Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đã có những tuyên bố như trên sau khi Trung Quốc đã cảnh báo Ấn Độ không nên tiến hành thăm dò dầu lửa tại các khu vực ở Biển Đông mà Việt Nam giao cho, bởi vì, theo Bắc Kinh, đây là những nơi đang có tranh chấp chủ quyền.
Ngày 25/3, trả lời các câu hỏi của một nhóm các nhà báo Ấn Độ tới thăm Bắc Kinh, một quan chức ngoại giao cấp cao của Trung Quốc đã tuyên bố rằng đó là một khu vực có tranh chấp, và sẽ không tốt đẹp gì cho Ấn Độ nếu tiến hành thăm dò dầu khí tại nơi này.
Xin nhắc lại là bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, tháng 10 năm ngoái, Ấn Độ vẫn ký với Việt Nam một thỏa thuận thăm dò dầu khí tại Biển Đông.
TAGS: ẤN ĐỘ - BIỂN ĐÔNG - CHÂU Á - VIỆT NAM

Trung Quốc cảnh báo Việt Nam và Philippines không nên tập trận chung ở Biển Đông

Trung Quốc cảnh báo Việt Nam và Philippines không nên tập trận chung ở Biển Đông

Tàu tuần hải 31 của Trung Quốc ở Biển Đông (DR)
Tàu tuần hải 31 của Trung Quốc ở Biển Đông (DR)

Đức Tâm
Hôm qua, 29/03/2012, Bắc Kinh đã cảnh báo Hà Nội và Manila không nên có những hành động làm tổn hại đến hòa bình, căng thẳng leo thang tại Biển Đông, sau khi báo chí đưa tin là Việt Nam và Philippines sẽ tiến hành tập trận và tổ chức tuần tra chung tại các nơi có tranh chấp về chủ quyền với Trung Quốc.

Theo Kyodo, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói rằng lợi ích cơ bản của các bên đang có tranh chấp là « duy trì hòa bình và ổn định tại biển Hoa Nam », tức Biển Đông và các cuộc tập trận chung cũng như tuần tra chung có thể làm cho hồ sơ tranh chấp chủ quyền thêm phức tạp.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhắc lại lập trường là Trung Quốc có « chủ quyền không thể tranh cãi » đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển lân cận. Theo tin báo chí, thì đây cũng chính là nơi mà Việt Nam và Philippines dự định tiến hành tập trận chung.
Đại diện chính quyền Bắc Kinh còn cho rằng các bên liên quan cần phải tuân thủ nội dung bản Tuyên bố chung về ứng xử tại Biển Đông  (DOC), được ký kết giữa Trung Quốc và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) năm 2002.
Đầu tuần này, tờ Philippines Daily Inquirer cho biết là theo phát ngôn viên quân đội nước này, từ 11 đến 14/3, tư lệnh hải quân Philippines, phó đô đốc Alexander Pama đã công du Việt Nam.
Trong chuyến đi này, tư lệnh Pama đã hội đàm với tư lệnh hải quân Việt Nam, đô đốc Nguyễn Văn Hiến và hai bên đã ký kết thỏa thuận về cách thức ứng xử của hải quân hai nước tại vùng biển giáp ranh, giữa đảo Northeast Cay – mà Việt Nam gọi là đảo Song Tử Đông hiện do Philippines chiếm giữ và đảo Southeast Cay – đảo Song Tử Tây do Việt Nam chiếm giữ, thuộc vùng quần đảo Trường Sa.
Đồng thời, chỉ huy hải quân hai nước cũng thỏa thuận về phương thức thực hiện bản ghi nhớ liên quan đến hoạt động tuần tra chung, được ký kết từ hồi tháng 10/2011.
TAGS: BIỂN ĐÔNG - CHÂU Á - PHILIPPINES - QUÂN SỰ - TRUNG QUỐC - VIỆT NAM

Tuesday, March 20, 2012

Lý Bằng biện minh cho thảm sát Thiên An Môn năm 1989


Lý Bằng biện minh cho thảm sát Thiên An Môn năm 1989

Xe tăng quân đội Trung Quốc tiến vào quảng trường Thiên An Môn năm 1989.
Xe tăng quân đội Trung Quốc tiến vào quảng trường Thiên An Môn năm 1989.
Ảnh: Reuters

Trọng Thành
Nhật báo Le Figaro hôm nay có bài « Tại Trung Quốc, Lý Bằng biện minh cho cuộc thảm sát Thiên An Môn ». Theo cựu thủ tướng Lý Bằng, chính Đặng Tiểu Bình là người đã ra lệnh thảm sát. Hồi ký của Lý Bằng đã hạ thấp hình ảnh đẹp đẽ của Đặng Tiểu Bình, cha đẻ của các cuộc cải cách tại Trung Quốc.Nếu như Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho quân đội hạn chế bạo lực khi tấn công các sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn, thì chính ông ta cũng tuyên bố sẵn sàng « làm đổ một chút máu » để đè bẹp cuộc phản kháng.

Nhật báo Le Figaro hôm nay có bài « Tại Trung Quốc, Lý Bằng biện minh cho cuộc thảm sát Thiên An Môn » với hàng tựa : Theo cựu thủ tướng Lý Bằng, chính Đặng Tiểu Bình là người đã ra lệnh thảm sát. Thông tín viên Le Figaro từ Bắc Kinh cho biết, ngày 22 tháng này, tại Hồng Kông, nhân dịp kỷ niệm vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989, sẽ ra mắt một cuốn hồi ký của Lý Bằng, thủ tướng Trung Quốc vào thời điểm đó. Trước đó một năm, nhà xuất bản New Century Press đã gây chấn động công chúng, với việc xuất bản các hồi ký bí mật của Triệu Tử Dương, Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, bị phế truất vì chống lại việc đàn áp kể trên.
Dù không làm đảo lộn các hiểu biết vốn có về vụ thảm sát Thiên An Môn, nhưng cuốn sách này đã đưa ra các chi tiết mới rất đáng quan tâm. Hồi ký của Lý Bằng đã hạ thấp hình ảnh đẹp đẽ của Đặng Tiểu Bình, cha đẻ của các cuộc cải cách tại Trung Quốc trong con mắt của người Trung Quốc. Theo cuốn hồi ký, nếu như Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho quân đội hạn chế bạo lực khi tấn công các sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn, thì chính ông ta cũng tuyên bố sẵn sàng « làm đổ một chút máu » để đè bẹp cuộc phản kháng. Giám đốc nhà xuất bản, là con trai của ông Bào Đồng, cánh tay phải của Triệu Tử Dương, cho biết tính xác thực của cuốn hồi ký này còn cần phải được kiểm chứng. Trên thực tế, Lý Bằng đã viết hồi ký và có ý định xuất bản năm 2004, nhưng ban lãnh đạo Trung Quốc cho rằng chưa phù hợp.
Trong cuốn hồi ký, Lý Bằng khẳng định, trong những ngày nóng bỏng tháng 6 năm 1989, Đặng Tiểu Bình chính là người đứng đằng sau hậu trường điều khiển, chứ không phải là một thủ lĩnh mệt mỏi, bị cánh cứng rắn trong ban lãnh đạo chi phối, theo quan niệm vẫn được lưu truyền. Theo Lý Bằng, chính Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố, nếu việc dùng quân đội đàn áp là sai, ông sẽ chịu trách nhiệm.
Mặc dù không phải là người đứng cùng một phía với Lý Bằng, nhưng ông Bào Đồng cũng nhìn nhận sự việc theo cách tương tự. Theo ông, chính Đặng Tiểu Bình mới là kẻ chịu trách nhiệm chính về cuộc đàn áp này, dù Lý Bằng vẫn thường được mệnh danh là « đồ tể Bắc Kinh ».
Đặng Tiểu Bình chết năm 1997, ở tuổi 92, mà không để lại bất cứ một lời kể nào về thực chất những gì đã dẫn đến vụ thảm sát này. Trong phần lời bạt của cuốn hồi ký định xuất bản năm 2004, Lý Bằng khẳng định chủ trương đàn áp sinh viên và việc bắt Tổng bí thư Hồ Diệu Bang là đúng, nhằm « bóp ngay từ trong trứng mọi ý đồ làm loạn ». Cựu Thủ tướng Trung Quốc cũng cho rằng, nếu như không hành động cương quyết như vậy, thì Trung Quốc đã không thể có được ổn định và thịnh vượng như hiện nay.
Trong những ngày vừa qua, từ Tổng thống Đài Loan cho đến các sinh viên Hồng Kông, nhiều tiếng nói đã cất lên yêu cầu ban lãnh đạo Trung Quốc đối mặt với quá khứ nặng nề này, đặc biệt là đưa ra ánh sáng về con số những người đã bị thiệt mạng trong vụ thảm sát và những người cho đến nay vẫn còn bị giam giữ.
Cũng về Trung Quốc, nhật báo Le Monde hôm nay chạy tựa « Tôi lên án chế độ Trung Quốc ».Đây là nhận định của Guy Sorman, một trong những người sáng lập tổ chức Hành động quốc tế chống nạn đói. Ông Sorman đã từng đến Trung Quốc và tiếp xúc với các nhà dân chủ Trung Quốc ngay tại đây. Chủ trương bảo vệ các quyền con người trên nền tảng tư tưởng chính trị tự do, Guy Sorman rất lo ngại trước thái độ thiếu trách nhiệm của phương Tây trong việc tỏ thái độ dứt khoát đối với Trung Quốc trong các vấn đề nhân quyền. Theo ông, sự phát triển kỳ diệu tại Trung Quốc đã che lấp thực tế là xã hội này, vẫn luôn luôn nằm dưới bàn tay của một đảng độc tài, thủ phạm của các vụ đàn áp những quyền con người cơ bản nhất.
Kể từ khi được chấp nhận vào Tổ chức Thương mại Thế giới (2001), Trung Quốc ngày càng ít tôn trọng các chuẩn mực pháp lý quốc tế. Kế từ khi được coi là một siêu cường, Trung Quốc không tham gia vào việc đem lại sự hài hòa cho thế giới, mà còn gây bất ổn định tại châu Á, bằng cách điều khiển con rối Bắc Triều Tiên. Tác giả bài tiểu luận đồng ý với Liu Xia, một nhà dân chủ sống tại Trung Quốc. Theo Liu Xia, các nhà dân chủ tại Trung Quốc bị đối xử hệt như người Do Thái dưới chế độ Đức quốc xã. Để nhận dạng chế độ hiện nay tại Trung Quốc, không gì hợp hơn là so sánh nó với chế độ phát xít, nơi mà một đảng duy nhất trị vì, khinh bỉ văn hóa, chủ trương liên minh chặt chẽ nhà nước với tư bản.
Trang nhất các nhật báo Pháp
Về quốc tế, nhật báo Le Figaro hôm nay tiếp tục quan tâm đến nạn thủy triều đen tại miền Đông Nam nước Mỹ. Le Figaro đăng bức hình một con chim bê bết dầu đang được vớt lên khỏi mặt nước, với hàng tựa : « Thủy triều đen, chiếc bẫy chính trị đối với ông Obama », nhấn mạnh, hiện nay rất nhiều người Mỹ phê phán thái độ của tổng thống trước thảm họa sinh thái dầu tràn có hệ quả tương đương với cuộc khủng bố 11 tháng 9. Còn nhật báo l’Humanité đăng ảnh những người Israel và Palestin cùng biểu tình tại Tel-Aviv để kêu gọi chấm dứt việc chính quyền Israel phong tỏa dải Gaza. Nhật báo Les Echos trên trang nhất đưa tin về thỏa thuận lịch sử của châu Âu nhằm thành lập một quỹ tiền tệ chung châu Âu.
Về nước Pháp, với hàng tựa « Hưu trí : ông Sarkozy mất điểm », nhật báo Libération khẳng định Tổng thống Sarkozy hiện chỉ còn được 34% người ủng hộ, theo điều tra dư luận do Libération tiến hành cùng với Viavoice. Đây là mức ủng hộ thấp nhất kể từ khi ông nhậm chức tổng thống đến nay. Le Monde giới thiệu kết quả điều tra về môi trường tại Pháp, do Bộ sinh thái tiến hành, và đưa ra năm nhận định về môi trường Pháp hiện nay. Khí gây hiệu ứng nhà kính bị giảm với các xe hơi thế hệ mới, các hình thức năng lượng mới có phát triển nhưng tốc độ không cao, đất và nước ngầm vẫn tiếp tục bị ô nhiễm, đa dạng sinh thái bị giảm đi bất chấp các biện pháp bảo vệ môi trường và các chất thải phóng xạ vẫn là một câu hỏi gây đau đầu. Nhật báo La Croix đưa tin và bài phân tích về hội nghị do Bộ giáo dục Pháp tổ chức bàn về việc tổ chức lại nhịp học tập tại trường học, trong ngày, trong tuần và trong năm trên toàn quốc. Đây là một chủ đề cũng được các báo khác chú ý.
Phải chăng Trung Quốc thất bại trong chính sách chiêu dụ Đông Nam Á ?
Trên đây là tựa bài nhận định đăng trên nhật báo trên mạng Jakarta Post, ngày hôm nay, của chuyên gia Evan Laksmana, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, có trụ sở tại thủ đô Indonesia.
Nội dung chính của bài viết đề cập đến chiến lược phát triển hải quân của Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh đang có nhiều tranh chấp về chủ quyền với nhiều quốc gia Đông Nam Á tại vùng biển trong khu vực.
Một số động thái gần đây của hải quân Trung Quốc thu hút sự chú ý của giới quan sát. Theo một báo cáo gần đây của Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược thì ngày 18 tháng ba, sáu tàu thuộc hạm đội Biển Bắc đã tiến hành « tập trận ở xa lãnh thổ quốc gia », trong khu vực gần quần đảo Spratley tức Trường Sa, gần eo biển Malacca. Theo lời chỉ huy hạm đội Biển Bắc thì Trung Quốc cần phải bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền lãnh hải của mình thông qua các hoạt động tầm xa của hải quân.
Đến giữa tháng tư, báo chí Nhật Bản cho biết là khoảng 10 tàu cũng thuộc hạm đội Biển Bắc đã tiến sát gần eo biển Miyako, thả neo ở phía đông Đài Loan và thực hiện tập trận chống tàu ngầm. Cuộc tập trận nói trên của Hạm đội Biển Bắc Trung Quốc đã bị gián đọan do sự xuất hiện của các tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng.
Tất cả những sự kiện nói trên cho thấy là sức mạnh hải quân Trung Quốc đang gia tăng cũng như ý định sử dụng sức mạnh này trong các tranh chấp về chủ quyền. Theo các nghiên cứu, trong lúc lãnh đạo Trung Quốc nói đến sức mạnh phòng thủ, thì Bắc Kinh cũng tỏ ra sự sẵn sàng dùng « sức mạnh trên quy mô lớn », giống như trong quá khứ, đặc biệt là khi có tranh chấp về lãnh thổ.
Tuy nhiên, theo tác giả, cũng cần ghi nhận là Trung Quốc giải quyết hầu hết các bất đồng về biên giới bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là 17 trong số 23 vụ tranh chấp kể từ năm 1949 bởi vì lãnh đạo Trung Quốc cho rằng cần phải tập trung và phát triển kinh tế và chứng tỏ cho thế giới thấy họ là một cường quốc có trách nhiệm. Chính vì vậy, khó có thể xác định được là trong những điều kiện nào thì Trung Quốc ngày nay có thể dùng vũ lực để bảo vệ cái mà họ gọi là « toàn vẹn lãnh thổ ».
Các cuộc tập trận hồi tháng ba và tháng tư cũng cho thấy khả năng tổ chức và tác chiến của hải quân Trung Quốc ở những vùng biển xa xôi. Lần đầu tiên, hải quân Trung Quốc đã tập trận ở bên ngoài « chuỗi đảo đầu tiên », một từ để chỉ các đảo Aleutians, Kuriles, Nhật Bản, Ryukyus, Đài Loan, Philippines và Kalimantan, qua đó mở rộng sự hiện diện để cần bằng ảnh hưởng trong khu vực trong thời gian tới. Theo chuyên gia khu vực Michael Auslin, được báo Jakarta Post trích dẫn thì đây là một bộ phận trong chiến lược « phòng thủ biển xa » của Trung Quốc.
Sự kiện hải quân Trung Quốc, vào tháng 12 năm 2008, tham gia hợp tác quốc tế chống cướp biển tại Vịnh Aden, việc mở rộng hoạt động của hải quân, vụ đối đầu với tàu Mỹ USS Impeccable, càng tỏ rõ ý đồ của Bắc Kinh. Do đó, các nước ASEAN rất khó có thể chấp nhận sức mạnh hải quân của Trung Quốc, nhất là vào lúc Vùng tự do thương mại Trung Quốc-ASEAN đang làm cho một số nước Đông Nam Á lo ngại, bất bình.
Vào năm 2002, Trung Quốc và ASEAN ra thông cáo về ứng xử của các bên tại biển Đông – Nam Hải nhưng văn bản này không có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý. Kỳ thực ra, những vấn đề trong quan hệ giữa hai bên vẫn tồn đọng. Chính vì vậy, theo tác giả, thái độ giải quyết những tranh chấp về chủ quyền tại Biển Đông – Nam Hải là một trắc nghiệm về mức độ trưởng thành trong quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN.
TAGS: CHÂU Á - TRUNG QUỐC - ĐIỂM BÁO

Thảm sát Thiên An Môn 1989 qua hồi ký của Triệu Tử Dương

Thảm sát Thiên An Môn 1989 qua hồi ký của Triệu Tử Dương


Ông Bào Đồng với cuốn sách mang hình Triệu Tử Dương
Ông Bào Đồng với cuốn sách mang hình Triệu Tử Dương
DR

Le Monde 5/10/2011, với bài viết «Tháng Năm 1989, khi xe tăng nghiền nát Thiên An Môn », chú ý đến cuốn hồi ký của cựu Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương, vừa được phát hành tại Pháp. Cuốn «Hồi ký của một nhà cải cách ở cương vị đứng đầu Nhà nước Trung Quốc» kể lại với độc giả về những diễn biến chưa từng được công bố.

Các diễn biến xảy ra ở thượng đỉnh bộ máy quyền lực Trung Quốc, vào thời điểm lãnh đạo Trung Quốc đưa ra quyết định thảm sát phong trào đòi dân chủ của sinh viên tại Thiên An Môn năm 1989, được tác giả mô tả chi tiết. Cuốn hồi ký cũng đồng thời cho thấy quan điểm của cựu lãnh đạo Trung Quốc, khẳng định chế độ cộng sản Trung Quốc cần phải tiến hành một cải cách chính trị thực sự - chủ đề cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự.
Cuốn hồi ký là kết quả của 30 giờ độc thoại, trong thời gian ông Triệu Tử Dương bị quản thúc tại gia ở Bắc Kinh, được ghi lại và được dấu vào các băng âm thanh kể chuyện trẻ em. Các bản ghi lời kể được bí mật chuyển sang Hồng Kông. Nhờ con trai của ông Bào Đồng, cộng sự thân tín của Triệu Tử Dương, cuốn hồi ký đã được xuất bản vào đầu năm 2009, đúng vào dịp 20 năm vụ thảm sát.
Đảm nhiệm chức vụ Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, vào thời điểm phong trào đòi dân chủ của sinh viên bùng nổ, ông Triệu Tử Dương mô tả sự khởi đầu rất có trật tự của phong trào sinh viên, nhân dịp lễ tưởng niệm ông Hồ Diệu Bang, nguyên Tổng bí thư và nhà lãnh đạo cải cách rất được người Trung Quốc yêu mến, vào ngày 22 tháng Tư năm 1989. Chính ông Triệu Tử Dương đã cho đưa loa ra quảng trường Thiên An Môn, để truyền trực tiếp buổi tưởng niệm Hồ Diệu Bang đến hàng chục ngàn sinh viên được cho phép có mặt tại đó.
Đặt câu hỏi, tại sao các sinh viên lại có thái độ nồng nhiệt như vậy trong buổi tưởng niệm ông Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương đưa ra ba lý do. Thứ nhất là, Hồ Diệu Bang đã phục hồi cho rất nhiều nạn nhân, bị chế độ kết án oan, bản thân ông là người cổ vũ cho cải cách và mở cửa, và đặc biệt không tham nhũng. Thứ hai là, dư luận hết sức bất bình, vì việc ông bị phế truất một cách bất công khỏi cương vị Tổng bí thư vào năm 1987. Và lý do thứ ba là, chính sách cải cách và cởi mở đã bị trì hoãn, cải cách chính trị bị ngăn chặn, cải cách kinh tế không tiến lên. Ông Triệu Tử Dương nhận định : « Các sinh viên bất bình vì tình trạng này, đã nhân dịp lễ tưởng niệm, biểu thị hy vọng cải cách tiếp tục ».
Triệu Tử Dương kể lại, sau khi Nhân dân Nhật báo số ra ngày 26/4 đăng một bài xã luận, thể hiện quan điểm của phái cứng rắn trong đảng Cộng sản Trung Quốc, lên án các cuộc biểu tình của sinh viên, ngày 17/5 ông đã gọi điện yêu cầu gặp mặt trực tiếp Đặng Tiểu Bình – nhân vật đầy quyền uy chi phối chế độ cộng sản Trung Quốc từ trong hậu trường – để bày tỏ quan điểm về bài xã luận này. Triệu Tử Dương đã nhận được sự chuẩn thuận của Đặng Tiểu Bình. Nhưng ông đã không gặp được Đặng Tiểu Bình để nói chuyện trực tiếp, mà đối mặt với ông là gần như toàn bộ ê kíp lãnh đạo. Để trả lời cho đề nghị của Triệu Tử Dương, xem xét lại bài xã luận và không nên gây thêm căng thẳng với phong trào phản kháng, thủ tướng Lý Bằng và phó thủ tướng thứ nhất Diêu Y Lâm (Yao Yilin) – hai trong số các trụ cột của chế độ - đã quy cho Triệu Tử Dương trách nhiệm kích động phong trào sinh viên, với bài diễn văn tại Ngân hàng Phát triển Châu Á ngày 4/5. Đây là lần đầu tiên, nguyên Tổng bí thư Triệu Tử Dương bị chỉ trích trực diện, và thái độ chỉ trích quyết liệt này đã khiến ông bị bất ngờ.
Triệu Tử Dương hiểu rằng, chính Đặng Tiểu Bình đã ngầm bật đèn xanh cho cuộc phản công này. Triệu Tử Dương kể lại, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra quyết định cuối cùng, khẳng định tính đúng đắn của bài xã luận 26/4 và tuyên bố, chế độ không còn đường nào khác hơn là phải dùng quân đội để ngăn chặn phong trào. Cũng trong buổi họp không chính thức này, Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho thủ tướng Lí Bằng, chủ tịch nước Dương Thượng Côn và Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Kiều Thạch (Qiao Shi) thực hiện quyết định này.
Rời khỏi cuộc họp, với suy nghĩ, trên cương vị Tổng bí thư tự bản thân không thể nào ra lệnh cho quân đội đàn áp sinh viên, Triệu Tử Dương quyết định yêu cầu thư ký thảo đơn đề nghị từ nhiệm chức vụ đứng đầu đảng Cộng sản Trung Quốc.
Trong cuộc họp Ban chấp hành Trung ương tiếp theo cuộc thảm sát, ông Triệu Tử Dương rất ghi nhớ, việc ông bị quy tội tiếp tay cho các lực lượng phản cách mạng nhằm lật đổ đảng Cộng sản và lãnh tụ Đặng Tiểu Bình. Văn bản lên án ông được gửi đến tất cả các cử tọa, trong khi đó, bản thân ông lại không được trình bày quan điểm.
Để kết thúc bài giới thiệu cuốn hồi ký của cựu lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc, Le Monde đưa ra trích đoạn một số quan điểm của Triệu Tử Dương, về các cải cách chính trị cần phải thực hiện tại Trung Quốc. Theo ông, Trung Quốc cần phải học tập các kinh nghiệm quá độ của các xã hội đã có những chuyển biến, từ một chế độ mang tính truyền thống sang một nền dân chủ nghị viện, như Đài Loan hay Hàn Quốc. Để cải cách, đảng cầm quyền Trung Quốc phải thực hiện hai điều cốt yếu.
Thứ nhất là, bãi bỏ lệnh cấm các đảng phái chính trị và báo chí độc lập. Thứ hai là, thực hiện dân chủ hóa trong nội bộ đảng. Triệu Tử Dương khẳng định, « sự chuyển hóa từ một đảng cách mạng sang một đảng điều hành đất nước, và sự chuyển hóa sang một chế độ dân chủ nghị viện, không thể nào thực hiện được, nếu như không có sự dân chủ hóa trong đảng. Dân chủ hóa trong đảng, nói một cách khác, là việc bảo đảm về mặt pháp lý cho sự tồn tại các quan điểm khác nhau trong nội bộ đảng ».
Kế hoạch giải cứu Hy Lạp của Châu Âu được xem xét lại
Với hàng tựa « Kế hoạch giải cứu Hy Lạp của Châu Âu bị xem xét lại », Les Echos cho hay, cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng nghiêm trọng tại Châu Âu kể từ mùa hè này làm cho các kế hoạch hỗ trợ phải thay đổi hoàn toàn. Chương trình cứu viện Hy Lạp được đưa ra ngày 21/7, như là một giải pháp duy nhất, nay đã ngày càng tỏ ra không còn phù hợp nữa. Hiện tại, tất cả hoặc gần như tất cả các biện pháp trong kế hoạch này đang được đưa ra để xem xét lại.
Theo Les Echos, có ba lý do như sau khiến giới lãnh đạo Châu Âu đang bắt đầu thay đổi quan điểm trong kế hoạch trợ giúp Hy Lạp. Thứ nhất là nỗi lo ngại của Hoa Kỳ và Quỹ tiền tệ Quốc tế về nguy cơ suy thoái kinh tế thế giới sẽ tăng lên, nếu khủng hoảng khu vực đồng euro lan rộng. Thứ hai là, suy thoái kinh tế tại Hy Lạp đòi hỏi nhiều tiền hỗ trợ hơn dự kiến. Và thứ ba là, áp lực của các thị trường, vốn không tin vào các biện pháp, được thông qua vào giữa hè qua.
Các biện pháp hiện đang được giới lãnh đạo Châu Âu xem xét lại bao gồm : thứ nhất, việc tăng phần đóng góp của khối tư nhân vào việc cho Hy Lạp mượn tiền để thanh toán nợ, thứ hai, việc sử dụng một cách hiệu quả nhất Quỹ Bình ổn Tài chính Châu Âu 440 tỷ đô la, thứ ba là việc thúc đẩy sự hình thành Cơ chế bình ổn Châu Âu, để thay thế cho Quỹ Bình ổn Tài chính vào giữa năm 2013 và cuối cùng là, việc tăng vốn cho các ngân hàng, để có thể chống chọi lại nguy cơ tan vỡ, trong trường hợp Hy Lạp không hoàn được nợ.
Les Echos cho biết, khả năng Châu Âu phối hợp đưa ra kế hoạch tăng vốn cho các ngân hàng ngày hôm qua tại Bruxelles, được các thị trường chứng khoán hưởng ứng đồng loạt. Tất cả các chỉ số chứng khoán lớn của Châu Âu đều tăng giá.
Cũng về kế hoạch trợ giúp các ngân hàng của Châu Âu, Libération đưa ra một số quan sát, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc kế hoạch này còn chưa đưa ra những ràng buộc đối với các ngân hàng. Libération dẫn lời giám đốc Ngân hàng Trung ương Châu Âu – Jean-Claude Trichet sắp mãn nhiệm, « các nền dân chủ của chúng ta sẽ không thể chấp nhận một kế hoạch trợ giúp các ngân hàng », với mức tương tự như năm 2008, mà không đòi hỏi các cam kết tương xứng từ phía các ngân hàng.
« Băng đảng buôn ma túy, vũ khí bí mật của chính quyền Mêhicô ? »
Cũng trên Libération có bài viết « Băng đảng buôn ma túy, vũ khí bí mật của chính quyền Mêhicô ? ». Phóng sự gửi về từ Mêhicô mô tả các cuộc thanh trừng mới đây do băng đảng buôn ma túy Zetas tiến hành và sự xuất hiện một nhóm bán quân sự mới có mục tiêu duy nhất là tiêu diệt Zetas, tổ chức bất hợp pháp gieo rắc kinh hoàng hơn chục năm nay tại tiểu bang miền đông Veracruz.
Biến cố đẫm máu nhất gần đây là vào ngày 20 tháng 9, khi tổ chức bán quân sự Matazetas (tức « những người tiêu diệt Zetas ») chính thức hành động. 35 thi thể, có dấu vết tra tấn, bị ném ra giữa đường xa lộ. Hai ngày sau, thêm 14 người khác bị giết chết tại tiểu bang này. Tất cả các nạn nhân đều là thành viên của băng đảng buôn ma túy Zetas.
Trên thực tế, trong thời gian gần đây Zetas đã gây ra một loạt vụ giết người kinh khủng : 52 người chết trong đám cháy tại sòng bạc thuộc thành phố Monterrey vào tháng Tám, ngày 13/9, 2 người dùng Internet bị giết hại dã man, rồi treo lên cầu, vì đã công bố trên mạng các thông tin về băng đảng Zetas, …
Libération nhận xét, hai cuộc giết người hàng loạt kể trên cho thấy các hành động bạo lực của Zetas đã vượt quá mức chịu đựng của xã hội. Lực lượng bán quân sự kể trên đã ra đời có mục tiêu tiêu diệt hoàn toàn băng nhóm này. Tuy nhiên, Libération dẫn lời một chuyên gia về tội phạm có tổ chức, khẳng định : lực lượng bán quân sự kể trên cũng là thành viên của một nhóm buôn ma túy khác, đối thủ của băng đảng Zetas. Mặc dù, khẳng định các hành động báo thù kể trên là nằm ngoài vòng pháp luật và cần phải được truy tố, trên thực tế nhà nước Mêhicô không kiểm soát nổi các băng đảng tội phạm có tổ chức. Bản thân băng Zetas đã được hình thành từ một nhóm binh sĩ thuộc lực lượng tinh nhuệ của quân đội Mêhicô. Nhóm này sử dụng các chiến thuật quân sự trong việc thực hiện các hoạt động phi pháp.
Năm 2025 : số người ở độ tuổi lao động tại Nga giảm đi 10 triệu
Bên cạnh vấn đề tình trạng nhà nước pháp quyền tại Nga rất kém cỏi, tờ Les Echos còn quan tâm tới nước Nga từ góc độ dân số học, với bài viết mang tựa đề « Quả bom nổ chậm dân số tại Nga », cho biết nước Nga sẽ thiếu lao động một cách trầm trọng trong mươi, mười lăm năm tới. Đến năm 2025, số người ở độ tuổi lao động tại Nga giảm đi 10 triệu, cho đến năm 2030, con số này có thể lên đến 18 triệu.
Cùng với việc độ tuổi trung bình của dân cư Nga ngày càng cao lên, nước Nga sẽ lâm vào tình trạng thiếu nhân công. Bên cạnh đó, một chuyên gia dân số học ghi nhận, nạn nghiện rượu tại Nga là nghiêm trọng, cho thấy những đau khổ trong đời sống tinh thần của nhiều người Nga, rất nhiều người Nga không muốn sống tại quê hương.
Theo giám đốc văn phòng của công ty thẩm định tài chính Standard & Poor’s tại Matxcơva, giải pháp duy nhất cho vấn đề này là Nga phải thu hút được các lao động có chất lượng trên toàn thế giới và kiên quyết chống nạn bài ngoại.
Trang nhất các nhật báo Pháp
Khủng hoảng tài chính Châu Âu với các diễn biến mới tiếp tục chiếm trang nhất nhiều báo Pháp hôm nay. « Dexia, ngân hàng đầu tiên là nạn nhân của cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro» là tựa đề chính trang nhất Le Monde. Libération chạy tựa « Khủng hoảng tài chính. Các quốc gia chi viện », với thông báo, các nhà lãnh đạo châu Âu đang tìm kiếm một sự hỗ trợ « phối hợp» đối với các ngân hàng mong manh nhất của Liên Hiệp. « Giải cứu đồng euro : làm lại từ đầu» là hàng tựa chính của nhật báo kinh tế Les Echos. Le Figaro theo dõi các biến động tại Hy Lạp trong cuộc khủng hoảng với bài phóng sự từ Rhodes, thành phố đảo Hy Lạp, mang tên : « Hy Lạp trên đường tan vỡ ».
La Croix tiếp tục quan tâm đến Syria với cuộc phản kháng chống lại chế độ độc đoán qua bài «Tại Syria, nơi luật im lặng ngự trị ». Tờ báo Công báo cũng lưu ý đến việc trợ giúp các trẻ em mồ côi. Trong khi đó, L’Humanité quan tâm đến khó khăn của giới về hưu tại Pháp qua tường trình « Những người về hưu cũng phẫn nộ ».
Nhìn sang Châu Mỹ, Le Figaro chú ý đến « Mitt Romney, ứng cử viên đảng Cộng hòa muốn tranh cử chống lại Barack Obama ». Le Figaro ghi nhận, ông Mitt Romney, cựu thống đốc bang Massachusetts, tỏ ra là một trong các ứng cử viên vào chức tổng thống sáng giá nhất của đảng Cộng hòa đối mặt với đương kim tổng thống Mỹ Obama.


Báo Trung Quốc lại đe dọa Việt Nam và Philippines về vấn đề Biển Đông

Báo Trung Quốc lại đe dọa Việt Nam và Philippines về vấn đề Biển Đông


Biển Đông nhìn từ Philippines.
Biển Đông nhìn từ Philippines.
DR

Vào hôm nay, 26/09/2011, các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc đã lại nhất loạt hù dọa Việt Nam và Philippines, hai nước đang bị Bắc Kinh tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. Các tờ báo đả kích Hà Nội và Manila về điều mà họ cho là mượn tay « thế lực nước ngoài » để chống lại các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc.

Một bài bình luận trên tờ China Daily lên án Việt Nam và Philippines là đã cố tình làm tình hình rắc rối thêm trong thời gian gần đây khi « nuốt lời cam kết giải quyết tranh chấp Biển Đông một cách hòa bình thông qua đối thoại giữa các bên có liên can », tức là song  phương với Trung Quốc.
Thay vào đó thì theo tờ báo này, cả Việt Nam lẫn Philippines đều tỏ rõ ý muốn mời các thế lực bên ngoài can dự vào hồ sơ Biển Đông để làm phương tiện mặc cả. Đối với tác giả bài xã luận, «Các mưu toan kể trên chắc chắn phải chịu số phận là thất bại », và hai nước này sẽ bị mất uy tín và nhất là – xin trích – « làm xói mòn lòng tin chính trị giữa họ và Trung Quốc ».
Nguyên nhân gây bất bình là cuộc hội thảo của các chuyên gia trong vùng Đông Nam Á về Biển Đông tại Manila hôm thứ năm tuần trước, một hành động bị coi là nhằm « quốc tế hóa » vấn đề Biển Đông, coi thường điều mà tờ báo cho là chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển này.
Còn Việt Nam, theo tờ China Daily, thì đã lôi kéo Ấn Độ vào vòng tranh chấp, thông qua một dự án đồng thăm dò khai thác nguồn dầu khí trong vùng biển tranh chấp.
Cùng một lời lẽ như tờ China Daily, nhà bình luận Lý Hồng Mai của Tân Hoa Xã cũng đả kích kế hoạch đồng thăm dò khai thác giữa Việt Nam và Ấn Độ tại vùng Biển Đông mà theo tác giả đã vi phạm trắng trợn chủ quyền của Trung Quốc vì khu vực thăm dò thuộc « thẩm quyền pháp lý » của Bắc Kinh.
Quay sang Philippines, cây bút của Tân Hoa Xã chỉ trích cố gắng của Tổng thống Aquino, muốn lôi kéo Nhật Bản can dự vào hồ sơ Biển Đông, đồng thời tìm cách tăng cường tiềm năng hải quân và không quân của Manila. Đối với tờ báo, cho dù Philippines gắn kết được với Nhật Bản và Việt Nam lôi kéo được Ấn Độ, các «bên thứ ba » này không thể sánh được với uy lực và ảnh hưởng của Trung Quốc trong vùng.
Tờ Nhân dân Nhật báo cũng tấn công Philippines về cuộc hội thảo hôm thứ năm tuần trước, bị tờ báo cho là nhằm liên kết ASEAN thành một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông.
Theo tờ báo, mưu toan của Manila như vậy là đã hoàn toàn thất bại, và « Không hề có một mặt trận thống nhất của ASEAN » tựa của bài xã luận. Tờ báo nêu ra nhiều lập luận, trong đó có sự kiện là có đến hai thành viên của Asean là Lào và Cam Bốt « không thèm gởi đại biểu đến Manila ».
Vào lúc báo chí Trung Quốc lớn tiếng đe dọa Việt Nam và Philippines, thì ngành ngoại giao Trung Quốc lại tỏ vẻ hòa hoãn. Theo Tân Hoa Xã, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì vừa tiếp xúc với đồng nhiệm Việt Nam Phạm Bình Minh tại Hoa Kỳ bên lề khóa họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.
Theo hãng tin Trung Quốc, thì hai bên đã có đề cập đến vấn đề Biển Đông, và ông Dương Khiết Trì đã cho rằng : « Hai bên cần có cái nhìn chiến lược trong việc xử lý các mối quan hệ, cần hàn gắn các bất đồng, tích cực thực thi bản Tuyên bố về Ứng xử của Các bên ở Biển Đông DOC và phát huy hợp tác thiết thực ».
Cũng theo Tân Hoa Xã, Ngoại trưởng Việt Nam đã đồng ý là sẵn sàng làm việc với Trung Quốc để "tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước”.