Sunday, December 22, 2013

Mua vũ khí Nga : Việt Nam sẽ vượt Trung Quốc

Mua vũ khí Nga : Việt Nam sẽ vượt Trung Quốc

Tàu ngầm lớp Kilo 636 của Nga (Ảnh : naval-technology.com)
Tàu ngầm lớp Kilo 636 của Nga (Ảnh : naval-technology.com)

Trọng Nghĩa
Theo một viện nghiên cứu Nga, trong khoảng thời gian từ năm nay 2013 cho đến năm 2016, Trung Quốc sẽ chỉ đứng thứ tư trong danh sách các bạn hàng mua vũ khí của Nga, tụt 2 hạng so với giai đoạn 2005-2013. Từ nay đến năm 2016, thứ hạng đầu vẫn là Ấn Độ, theo sau là Irak, và đứng thứ ba là Việt Nam.

Theo bản tin trên mạng của báo Đài Loan Want China Times, trích dẫn một bản phúc trình do Trung tâm Phân tích Thương mại Vũ khí Thế giới (Centre for Analysis of World Arms Trade) công bố ngày 13/12/2013 vừa qua, Ấn Độ, Irak và Việt Nam hoàn toàn có thể là ba bạn hàng vũ khí hàng đầu của Nga trong thời kỳ 2013-2016.
Trung tâm nghiên cứu này dự báo là bộ ba nói trên gộp lại sẽ bảo đảm khoảng 51,24% tổng doanh thu ngành xuất khẩu vũ khí của Nga, với Ấn Độ hơn hẳn các nước đi sau, chiếm 32,75%, tiếp theo là Iraq (với 9,87%) và Việt Nam (với 8,92%).
Dự báo trên đây là một thay đổi đáng kể so với giai đoạn 2005-2012, tỷ lệ của Việt Nam trong doanh thu xuất khẩu vũ khí của Nga chỉ là 4,86%, đứng hàng thứ năm, trong khi Irak, với 0,54%, đứng thứ bảy. Ba vị trí đầu do Ấn Độ, Trung Quốc, và Algeri nắm giữ. Chính từ năm 2005, mà New Delhi đã vươn lên giành lấy vị trí đầu bảng của Bắc Kinh.
Theo các nhà phân tích, nhân tố thúc đẩy Hà Nội cấp tốc quay sang phía Matxcơva để tìm mua vũ khí với những khối lượng đáng kể, chính là các hành vi hung hăng của Trung Quốc đe dọa, sách nhiễu Việt Nam trên vùng Biển Đông, đặc biệt là từ năm 2009, khi Bắc Kinh công khai hóa tấm bản đồ hình lưỡi bò đòi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông.
Nổi bật trong danh mục vũ khí Việt Nam đã và sẽ tiếp tục mua vẫn là các loại phương tiện dùng để phòng thủ vùng biển, từ thương vụ mua 6 chiếc tàu ngầm kí lô, 4 chiếc khu trục hạm lớp Gepard, hàng chục chiến đấu cơ trang bị phương tiện chống tàu ngầm, cho đến các hệ thống tên lửa khác nhau dùng để phòng không, chống hạm, chống ngầm hay phòng thủ bờ biển.
Một bản tin của Đài Tiếng nói nước Nga hôm 16/11 vừa qua đã trích dẫn ông Igor Korotchenko, Tổng biên tập của một chuyên san quốc phòng Nga, thẩm định rằng trong tương lại, trị giá các giao dịch về vũ khí Nga-Việt có thể lên đến hàng chục tỷ đô la.
TAGS: CHÂU Á - NGA - QUÂN SỰ - QUỐC PHÒNG - QUỐC TẾ - TRUNG QUỐC - VIỆT NAM - VŨ KHÍ - VŨ TRANG

Chiến thuật "không đánh mà thắng" của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến thuật "không đánh mà thắng" của Trung Quốc ở Biển Đông

EmailInPDF.
Trong một mặt trận không tiếng súng, Trung Quốc sẽ cố gắng để giành chiến thắng bằng các chiến thuật như chia rẽ các thành viên ASEAN, áp dụng đòn bẩy kinh tế, củng cố yêu sách pháp lý bằng cách triển khai tàu đánh cá, tàu nghiên cứu, tàu du lịch và các tàu hải giám

Cuộc chiến về chủ quyền: Trung Quốc lên kế hoạch đưa du thuyền chở đầy khách nhằm khẳng định quyền kiểm soát đối với các hòn đảo đang tranh chấp tại Biển Đông
Cuộc chiến về chủ quyền: Trung Quốc lên kế hoạch đưa du thuyền chở đầy khách nhằm khẳng định quyền kiểm soát đối với các hòn đảo đang tranh chấp tại Biển Đông
Trung Quốc hiện có quân đội lớn nhất châu Á và mức chi tiêu cho lực lượng hải quân, bảo vệ bờ biển và không quân đứng thứ hai, chỉ sau Mỹ. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn đang không ngừng đưa thêm các lực lượng mới như tàu tuần du hay khách du lịch để bảo vệ những yêu sách rộng lớn của mình trên Biển Đông. Trong nhiều thập kỷ, các tấm bản đồ của Trung Quốc đều thể hiện một đường chữ U với những nét đứt đoạn để thể hiện yêu sách biển của nước này, cắt vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước láng giềng, vốn được ghi nhận theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển. Căng thẳng chủ nghĩa dân tộc gia tăng do những yêu sách chủ quyền đối lập và đã xuất hiện những vụ đọ súng giữa các tàu cá và tàu tuần tra của các bên.  Ông Marvin Ott, chuyên gia cao cấp về châu Á tại Trung tâm Học giả Quốc tế Woodrow Wilson cho rằng quan điểm chính thức của Mỹ là duy trì các tuyến đường biển quốc tế và không sử dụng vũ lực trong giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Trong một mặt trận không tiếng súng, Trung Quốc sẽ cố gắng để giành chiến thắng bằng các chiến thuật như chia rẽ các thành viên ASEAN, sử dụng đòn bẩy kinh tế, củng cố yêu sách pháp lý bằng cách triển khai tàu đánh cá, tàu nghiên cứu, tàu tuần tra và tàu du lịch.
Ai cần đến hải quân? Trung Quốc triển khai tàu tuần du để khẳng định yêu sách Biển Đông
Năm 2012 với việc hạ thủy tàu Liêu Ninh - tàu sân bay đầu tiên của mình, Trung Quốc đã thu hút sự chú ý của cả thế giới. Với chiếc tàu của Nga được tân trang lại, các nhà quan sát dự đoán Trung Quốc sẽ tăng cường thực thi các yêu sách rộng lớn của mình tại Biển Đông, mặc dù muốn đưa Liêu Ninh vào hoạt động thực sự thì còn phải mất nhiều năm nữa.
Đầu tháng 4, Trung Quốc đã triển khai một hệ thống vũ khí có hiệu quả hơn nhằm khẳng định yêu sách lãnh thổ của mình - đó là chiếc du thuyền chở hàng ngàn du khách. Việc triển khai một tàu du lịch cùng với vô số tàu khác để củng cố yêu sách của mình ở Biển Đông đã gợi ra những ý nghĩa mới về tuyên bố "trỗi dậy hòa bình" của Trung Quốc.
Từ đầu những năm 1950, các tấm bản đồ Trung Quốc đã thể hiện một đường 9 đoạn kéo dài dọc đường bờ biển Trung Quốc và Đông Nam Á để đánh dấu sự kiểm soát chủ quyền của nước này. Nỗ lực làm rõ ý nghĩa đường chữ U có xu hướng bị lu mờ khi xuất hiện hàng loạt các tuyên bố mâu thuẫn và không rõ ràng. Thậm chí nếu Trung Quốc có ý định sử dụng đường chữ U làm biên giới chủ quyền thì chúng cũng chưa được xem xét một cách nghiêm túc. Tuy nhiên vào năm 2009, Trung Quốc đã đệ trình tấm bản đồ này lên Liên Hợp Quốc để khẳng định "chủ quyền không thể tranh cãi” của mình. Hành động này của Trung Quốc do đó đã chứng minh một điều rõ ràng rằng đường chữ U đã được các quan chức cấp cao nhất của chính phủ Trung Quốc nhìn nhận như một đường biên giới biển hợp pháp và có thể thực thi.
Hàng loạt vụ va chạm với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á liên quan đến tàu đánh bắt cá, tàu tuần tra và những tuyên bố công khai mạnh bạo của Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế vào tháng 7 năm 2010 khi Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton kêu gọi Trung Quốc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Trung Quốc phản ứng bằng cách đẩy mạnh năng lực thực thi và triển khai hàng loạt các cơ quan chấp pháp trên biển của chính phủ như: Cục An toàn Hàng hải, Lực lượng Chấp pháp Ngư nghiệp, Cục Hải dương Quốc gia, và Hải giám Trung Quốc, đó là còn chưa kể đến Lực lượng Cảnh sát biển thuộc Bộ Công an và các cơ quan hàng hải cấp tỉnh, đặc biệt là đảo Hải Nam - tất cả lực lượng này đều tách biệt với sự gia tăng nhanh chóng của hải quân và không quân Trung Quốc. 
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc thu hút nhiều sự chú ý, nhưng trong tương lai gần nó không phải là một vũ khí quân sự tác chiến .
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc thu hút nhiều sự chú ý, song trong tương lai gần nó chỉ có giá trị trong đào tạo quân sự chứ không phải như một vũ khí tác chiến. Cảnh sát biển với nhiều chức năng đa dạng của mình lại là một câu chuyện khác.
Sự phát triển của lực lượng này được các phóng viên của tờ báo The Los Angeles tại Bắc Kinh miêu tả khá rõ: Ví dụ như, từ năm 2000 quân đội Trung Quốc đã chuyển giao 11 tàu chiến cũ cho cơ quan Hải giám, vốn đã tự đóng 13 tàu riêng cho mình và có kế hoạch đóng thêm 36 tàu. Lực lượng Chấp pháp Ngư nghiệp gần đây đã tiếp quản một tàu chiến cũ được trang bị sàn đỗ trực thăng. Những chiếc tàu mới này luôn trong tình trạng hoạt động. Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ ước tính rằng số lượng các cuộc tuần tra tầm xa của cảnh sát biển Trung Quốc ở Biển Đông đã tăng gấp 3 lần kể từ năm 2008. Theo quan sát của một quan chức hải quân Mỹ được đăng trên tờ Times thì "Tàu hải giám của Trung Quốc chẳng có nhiệm vụ gì khác ngoài việc uy hiếp các quốc gia láng giềng phải chấp nhận các tuyên bố chủ quyền bành trướng của Trung Quốc." Tàu của Trung Quốc đã cắt cáp tàu thăm dò của Việt Nam, bắt giữ và đe dọa ngư dân của các quốc gia Đông Nam Á, quấy rối tàu hải quân Mỹ, và trong vụ Scarborough, Trung Quốc đã dựng một rào cản để thiết lập sự kiểm soát hoàn toàn của riêng mình. Tuy các tàu dân sự củaTrung Quốc không được trang bị vũ khí quân sự, nhưng việc thể hiện sức mạnh bằng vòi rồng và súng móc câu đã gây nên sự thất vọng và cảm giác bất lực của các quốc gia láng giềng đối với Trung Quốc.
Về mặt chiến lược, có thể Trung Quốc đã tự "bắn vào chân mình", nhưng ở cấp độ chiến thuật thì dường như không. Các nước Đông Nam Á không có đủ tiềm lực để chạy đua với Trung Quốc, cả trên biển lẫn trên không ở Biển Đông, về mặt quân sự cũng như các trang thiết bị bảo vệ bờ biển, khoảng cách về tiềm lực giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á cứ lớn dần theo từng tháng. Nói một cách thẳng thắn, lực lượng chấp pháp trên biển của Trung Quốc có thể tùy ý gạt bỏ các nước Đông Nam Á sang một bên – ngoại trừ các tiền đồn quân sự Việt Nam. Trong khi đó, Mỹ từ lâu đã tuyên bố không đứng về phía nào đối với các yêu sách lãnh thổ tại Biển Đông mà chỉ nhấn mạnh hai nguyên tắc: duy trì các tuyến đường biển quốc tế trong khu vực được coi là "tài sản chung toàn cầu" và không sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Lợi dụng lỗ hổng trong quan điểm trên của Mỹ, Trung Quốc đã sử dụng các lực lượng bảo vệ bờ biển phi vũ trang để thực thi yêu sách của mình.
Lợi dụng lỗ hổng trong quan điểm trên của Mỹ, Trung Quốc đã sử dụng các lực lượng bảo vệ bờ biển phi vũ trang để thực thi yêu sách của mình.
Xem xét những gì đã xảy ra tại Scarborough, một đảo san hô mà Philippines đòi chủ quyền nằm gần về phía Philippines hơn rất nhiều so với Trung Quốc. Cảnh sát biển Trung Quốc, mặc dù không có cơ sở để can thiệp, đã ngăn cản cảnh sát biển Philippines bắt giữ các ngư dân Trung Quốc đánh bắt trộm các loài được bảo vệ và sau đó dựng rào chắn để ngăn các ngư dân Philippines đi vào vùng biển truyền thống của họ - và việc này xảy ra ngay trước mắt Hải quân Mỹ. Bãi cạn Scarborough minh họa cho một chiến thuật ngày càng rõ nét của Trung Quốc: chiếm đoạt các bãi cạn dễ bị tấn công, thiếp lập sự hiện diện lâu dài và bảo vệ bằng các lực lượng phi quân sự. Về điểm này, rất ít người cho rằng Washington đã triển khai một đòn phản công hiệu quả, ngay cả về mặt nhận thức.
Yếu tố kinh tế đóng vai trò chủ chốt trong tầm ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Đông Nam Á. Cuối những năm 1990, Mỹ và Nhật Bản là đối tác kinh tế lớn của khu vực Đông Nam Á. Nhưng Trung Quốc đã thay thế cả hai để trở thành đối tác thương mại quan trọng đối với khu vực – trong khi chỉ số đầu tư vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Sự liên kết giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á không chỉ đơn thuần ở hàng hóa xuất khẩu, dịch vụ và tiền bạc. Từ Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc, Trung Quốc đã đàm phán một loạt các hiệp định kinh tế với khu vực này bao gồm một loạt các dự án cơ sở hạ tầng kết nối Đông Nam Á với phía nam Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc đang xây dựng các tuyến đường sắt, đường bộ và mạng lưới sông đầy ấn tượng cùng với mạng lưới điện và các cảng – kết nối Đông Nam Á và Trung Quốc thành một đơn vị kinh tế tổng hợp. Không khó để hình dung cách thức mà các mối liên kết và sự phụ thuộc lẫn nhau này được sử dụng để tạo ảnh hưởng chiến lược và phá vỡ các mối quan hệ khác trong khu vực. Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN năm 2012 do Campuchia làm chủ tịch, căng thẳng phát sinh khi Philippines cho rằng thông cáo chung cần đề cập đến các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhưng Chủ tịch Campuchia đã từ chố, và cuộc họp kết thúc trong mâu thuẫn. Các quan chức Campuchia đã tiết lộ rằng họ phải hành động như thế để đáp lại yêu cầu từ Trung Quốc vì nếu Phnom Penh không tuân thủ sẽ phải chịu hậu quả kinh tế nghiêm trọng. Thực tế, Bắc Kinh đã chứng minh khả năng phủ quyết bất kỳ quan điểm nào liên quan đến Biển Đông trong ASEAN.
Các  quốc gia láng giềng của Trung Quốc sẽ không dám bắn vào tàu chở du khách dân sự trong khu vực mà các quốc gia cho là thuộc lãnh thổ của mình
Việc Trung Quốc đưa du thuyền du lịch vào vùng biển đang có tranh chấp đã đặt một thách thức khác lên khu vực. Sẽ không có một quốc gia láng giềng Đông Nam Á nào dám bắn vào tàu chở du khách dân sự trong khu vực mà họ cho là thuộc lãnh thổ của mình.
Có thể lập luận rằng quyết định vén bức màn về ý định lãnh thổ ở Biển Đông của Trung Quốc là một sai lầm chiến lược. Nó gióng lên hồi chuông báo động trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt đối với các chính phủ có yêu sách trong khu vực Biển Đông như Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines và thậm chí cả Indonesia. Nó cũng tạo nên chiến dịch "xoay trục" sang châu Á của Mỹ, trong đó có các phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng rằng quân đội Mỹ sẽ tái triển khai tới châu Á và việc này sẽ không bị ảnh hưởng bởi việc cắt giảm ngân sách. Các chính phủ tại Việt Nam, Philippines, Singapore và Indonesia đã có những động thái công khai để tăng cường hợp tác an ninh với Mỹ. Một khu vực đã từng hòa dịu và hữu nghị với Trung Quốc hiện nay đang rất dễ bị kích động.
Tương lai chiến lược và phạm vi không gian biển của Đông Nam Á khó có thể dự đoán và biết trước được. Trung Quốc đã đưa ra yêu sách đầy kịch tính, thậm chí trắng trợn, trái với luật pháp quốc tế đối với lãnh thổ mà Trung Quốc chưa từng kiểm soát trước đó. Mặc dù về thực chất yêu sách của Trung Quốc có thể rất mơ hồ, nhưng Trung Quốc đã triển khai các chiến thuật và sự ảnh hưởng của mình để biến yêu sách đó thành thách thức chiến lược bậc nhất đối với khu vực và Mỹ.
Marvin Ott là một chuyên gia về chính sách công tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Woodrow Wilson và là Phó Giáo sư tại trường Đại học Johns Hopkins. Bài viết được đăng lần đầu trên Yale Global.
Nguyễn Huyền (dịch)

Saturday, December 21, 2013

Thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc cũng bị điều tra về tham nhũng

Thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc cũng bị điều tra về tham nhũng

Ông Lý Đông Sinh, thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc (DR)
Ông Lý Đông Sinh, thứ trưởng Bộ Công an Trung Quốc (DR)

Tú Anh
Thứ trưởng bộ Công an Trung Quốc Lý Đông Sinh bị điều tra về tội tham nhũng mà theo thuật ngữ chính thức là “vi phạm kỷ luật đảng”. Ủy ban kỷ luật và thanh tra đảng Cộng sản Trung Quốc loan báo tin này vào chiều hôm qua 20/12/2013.

Theo hãng tin AFP, đảng Cộng sản Trung Quốc thông báo thứ trưởng Công an Lý Đông Sinh là đối tượng điều tra của chiến dịch chống tham nhũng nhắm vào các nhân vật cao cấp trong chế độ.
Trong ngày hôm qua, tên tuổi hai quan chức bị điều tra được công bố cách nhau vài giờ đó là Tào Giám Liệu, Phó thị trưởng Quảng Châu (xem bản tin cùng ngày của RFI) và người thứ hai là thứ trưởng công an Lý Đông Sinh.
Năm nay 58 tuổi, Lý Đông Sinh là một quan chức đầy thế lực trong Bộ Công an, đặc trách tôn giáo kiêm nhiệm vai trò chỉ huy chiến dịch đàn áp giáo phái Pháp Luân Công được mô tả rất tàn bạo.
Tin thứ trưởng bộ Công an Lý Đông Sinh bị điều tra được loan báo trong bối cảnh có tin đồn (đáng tin cậy) cựu bộ trưởng Công an và lãnh đạo an ninh chính trị Chu Vĩnh Khang cũng bị điều tra theo lệnh của chủ tịch Tập Cận Bình. Theo hãng tin Reuters, hiện nay Chu Vĩnh Khang đang bị quản thúc tại gia.
Các diễn biến này xảy ra trong khuôn khổ một sách lược tăng cường quyền lực cho chủ tịch nước trong cơ chế mới gọi là “Cơ quan An ninh Quốc gia” theo mô hình của Mỹ, nhưng thực chất tập trung đối phó với tình hình nội bộ. Chủ tịch Tập Cận Bình kiểm soát toàn bộ quân đội, an ninh tình báo và công an cảnh sát.
TAGS: CHÂU Á - THAM NHŨNG - THEO DÒNG THỜI SỰ - TRUNG QUỐC - XÃ HỘI

Công an Trung Quốc đánh chết một nhà sư Tây Tạng có nhiều ảnh hưởng

Công an Trung Quốc đánh chết một nhà sư Tây Tạng có nhiều ảnh hưởng

Ông Jamyang Geshe Ngawang là một giảng sư Phật học uyên thâm (www.freedom4tibet.org)
Ông Jamyang Geshe Ngawang là một giảng sư Phật học uyên thâm (www.freedom4tibet.org)

Trọng Thành
Theo hãng tin Asia News hôm qua 20/12/2013, thi thể đầy thương tích của nhà sư Tây Tạng Jamyang Geshe Ngawang – một người rất được cộng đồng yêu mến – đã được trả lại gia đình. Nhân viên an ninh Trung Quốc đe dọa tính mạng thân nhân của nhà sư Tây Tạng để buộc họ phải im lặng.

Ông Jamyang Geshe Ngawang là một giảng sư Phật học uyên thâm và một nhà tu hành rất được tôn trọng tại địa phương. Ông bị bắt ngày 23/11/2013, cùng với hai người bạn tại Lhassa, thủ phủ khu tự trị Tây Tạng. Kể từ đó, không ai biết ông ở đâu, cho đến ngày 17/12, khi công an Trung Quốc trả thi thể ông về gia đình.
Ông Ngawang Tharpa, một người Tây Tạng sống lưu vong ở Ấn Độ, cho đài Radio Free Asia biết : « Nhà sư đã bị đánh chết. Khi công an trả thi thể của ông cho gia đình, họ cảnh báo gia đình không được nói gì về biến cố xẩy ra, nếu không sẽ bị giết ».
Theo Trung tâm Tây Tạng vì nhân quyền và dân chủ (TCHRD - Tibetain Centre for Human Rights and Democracy), « rõ ràng là nhà sư đã bị đánh chết tại một trại giam bí mật. Ông vốn là một người to lớn và khỏe mạnh khi ông rời tu viện tới Lhassa ». Trung tâm Tây Tạng vì nhân quyền và dân chủ cho biết thêm một trong hai người bị bắt còn lại là ông Kelsang Choklang. Tuy nhiên, hiện tại không có tin tức gì về hai người bị bắt cùng nhà sư Jamyang.
Sinh năm 1968, tại huyện Diru hay Biru (« Bỉ Như » trong tiếng Hán), ông Jamyang đi tu từ năm 1987, hai năm sau khi ông tới Ấn Độ. Năm 2007, nhà sư Jamyang trở lại Tây Tạng để truyền bá văn hóa và Phật giáo Tây Tạng tại vùng đất quê hương ông.
Năm 2009, ông từng bị kết án hai năm tù, vì bị cáo buộc « có quan hệ với ngoại quốc », tuy nhiên ông được trả tự do sớm. Nhà sư tiếp tục các hoạt động tôn giáo tại tu viện Tarmoe Nagchu, thuộc huyện Biru, địa khu Nagchu (« Na Khúc » trong tiếng Hán) cho đến khi ông bị bắt vào cuối tháng 11 vừa rồi.
Theo giới quan sát, vụ bắt bớ và giết hại nhà sư Jamyang kể trên là một tội ác mới của chính quyền Bắc Kinh trong chiến dịch gia tăng đàn áp nhằm kiểm soát chặt chẽ khu tự trị Tây Tạng, đặc biệt là đối với huyện Biru, nơi đa số dân cư không chấp nhận sự thống trị của Trung Quốc.
Đầu tháng 10, công an Trung Quốc đã nổ súng vào đoàn người biểu tình tại huyện Biru (tập hợp đòi trả tự do cho một người bị bắt, vì không chấp nhận treo quốc kỳ 5 sao tại nhà), khiến 60 người bị thương.
 
TAGS: CHÂU Á - TÂY TẠNG - TRUNG QUỐC

Bắc Kinh lên án Tokyo tăng cường vũ trang

Bắc Kinh lên án Tokyo tăng cường vũ trang

Hệ thống phòng thủ với đơn vị tên lửa Patriot PAC-3 tại Akita, miền bắc Nhật Bản - Reuters
Hệ thống phòng thủ với đơn vị tên lửa Patriot PAC-3 tại Akita, miền bắc Nhật Bản - Reuters

Tú Anh
Chính quyền Bắc Kinh cho rằng Nhật Bản lấy cớ bị Trung Quốc lấn át để tăng cường quân lực đe dọa nền hòa bình khu vực. Lời công kích của Bộ Quốc phòng Trung Quốc được đưa ra hai ngày sau khi Tokyo thông báo gia tăng thêm 5% ngân sách quốc phòng cho năm năm tới.

Trong một bản tuyên bố phổ biến vào hôm qua 20/12/2013, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Yến Sinh cho biết « Trung Quốc cực lực phản đối » chương trình binh bị của Nhật Bản.
Theo luận điểm của Bắc Kinh thì Tokyo sử dụng chiêu bài « bị Trung Quốc đe dọa quân sự » để gia tăng sức mạnh quân sự. Theo phát ngôn viên Trung Quốc thì hành động này « phải làm cho các nước trong vùng và cộng đồng quốc tế lo ngại ».
Hai ngày trước đó, chính phủ Nhật Bản chấp thuận kế hoạch năm năm từ 2014 đến 2019 tăng ngân sách quốc phòng thêm 5% tương đương với 240 tỷ đôla Mỹ.
Ngân sách quốc phòng Nhật trong năm 2012 không quá 60 tỷ đôla trong khi Trung Quốc chi phí trên 166 tỷ đôla theo một kết quả nghiên cứu của Tổ chức Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế của Thụy Điển.
Tình hình căng thẳng tại Biển Hoa Đông mỗi ngày mỗi nghiêm trọng đến mức độ thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe từ khi lên nắm quyền vào cuối năm ngoái đến nay không hề đi thăm Trung Quốc.
Sự kiện Bắc Kinh lập vùng phòng không bao trùm quần đảo Senkaku (Điếu Ngư), trực thuộc quần đảo Okinawa làm cho Nhật Bản thêm quyết tâm tăng cường sức mạnh quân sự.
Theo kế hoạch quốc phòng mới, Nhật Bản trang bị thêm khu trục hạm, tầu ngầm chiến đấu cơ thế hệ mới, máy bay trinh sát không người lái và thành lập các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến và xe tăng lội nước.
TAGS: CHÂU Á - NHẬT BẢN - TRUNG QUỐC - VŨ KHÍ

Bắc Kinh càng khiêu khích, Tokyo càng lên tinh thần võ sĩ đạo

Bắc Kinh càng khiêu khích, Tokyo càng lên tinh thần võ sĩ đạo

Đơn vị phòng thủ trang bị tên lửa Patriot (PAC-3) trước Bộ Quốc phòng tại Tokyo - REUTERS /Toru Hanai/Files
Đơn vị phòng thủ trang bị tên lửa Patriot (PAC-3) trước Bộ Quốc phòng tại Tokyo - REUTERS /Toru Hanai/Files

Tú Anh
Hàng trăm vụ báo động phòng không trong năm 2013. Hàng không mẫu hạm ngụy trang thành tàu khu trục được hạ thủy. Một Thủ tướng với diễn văn mang dấu ấn tinh thần bảo quốc an dân. Hơn nửa thế kỷ sau thảm bại quân sự trong thế chiến thứ hai và bị trói buộc trong bản Hiến pháp chủ hòa, tinh thần samourai của quân đội Nhật đang hồi sinh vì thái độ đáng ngờ của láng giềng Trung Quốc.

Đầu tuần này, chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe thông báo kế hoạch quốc phòng cho năm năm tới lên gần 240 tỷ đôla, tăng 5% so với chi phí quân sự 2012, đã được tăng 2% sau 11 năm không thay đổi. Chuyện gì đã làm cho một quân đội chỉ có 250.000 quân, từ 60 năm nay bị trói buộc vào bản Hiến Pháp hòa bình phải biểu dương lực lượng, phô trương cơ bắp ?
"Nước Nhật trỗi dậy". Tạp chí Time của Mỹ đã nhận định một cách báo động không phải là không có lý do. Trong vòng ba tháng từ tháng Tư cho đến tháng Sáu năm 2013, không quân Nhật đã 69 lần báo động cho máy bay chiến đấu cất cánh khẩn cấp để xua đuổi máy bay Trung Quốc xâm nhập quần đảo Senkaku/ Điếu ngư.
Tháng Chín, lần đầu tiên Trung Quốc cho một oanh tạc cơ và một máy bay trinh sát không người lái (drone) tiến thật gần không phận Nhật Bản. Loại « drone » này từng được được một viên chức Trung Quốc khoe khoang hiệu năng phóng rocket sát hại một trùm ma túy Miến Điện ở khu tam giác vàng sau khi một tàu tuần tra biên giới của Trung Quốc trên sông Mekong bị tấn công hồi năm ngoái.
Theo giới quan sát , hơn bao giờ hết, phi công Nhật Bản phải trực diện với những hiểm nguy càng lúc càng cao. Ngoài đe dọa của Trung Quốc, cũng trong giai đoạn từ tháng Tư đến tháng Sáu năm nay, không quân Nhật còn phải đối phó với máy bay Nga (31 lần) và Bắc Triều Tiên (9 lần). Trả lời phỏng vấn của tạp chí Time, một phi công F-15 Nhật Bản tuyên bố « mỗi lần cất cánh là mỗi lần có cảm tưởng góp phần bảo vệ đất nước ».
Tình trạng phải thường xuyên đối phó với các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên biển và trên không, đặc biệt là từ khi tàu chiến Trung Quốc chĩa ra-đa tác xạ tên lửa vào một trực thăng và một tàu tuần dương Nhật Bản trong hải phận quốc tế và gần đây nhất là « vùng phòng không » trên biển Hoa Đông, Tokyo đã ưu tiên gia tăng chi tiêu quân sự mặc dù ngân sách eo hẹp.
Theo nhận định của chuyên gia Pháp Edouard Pflimfin của Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế IRIS : Thủ tướng Nhật có quyết tâm tăng cường sức mạnh quân đội ». Từ một năm nay, Nhật Bản liên tục trang bị thêm vũ khí chiến lược : hàng không mẫu hạm trực thăng, khu trục hạm chống tên lửa và phòng không Aegis, hạ thủy chiếc khu trục hạm khổng lồ Izumo có đường băng tiếp nhận máy bay như một hàng không mẫu hạm.
Viện nghiên cứu chiến lược IISS đánh giá « Đội quân Tự vệ của Nhật, là quân lực tân tiến nhất tại Á châu », cho dù chỉ có 250.000 quân.
Sự kiện Trung Quốc, qua tuyên bố của phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Cảnh Yến Sinh lên án Nhật Bản « viện cớ bị Trung Quốc đe dọa » để tăng cường vũ trang, cho thấy Bắc Kinh đang lo ngại. Đài truyền hình Phượng Hoàng ở Hồng Kông có lập trường thân Bắc Kinh phải nhận định : nếu có chiến tranh, tàu sân bay Liêu Ninh và các hạm đội Trung Quốc sẽ không đủ sức đối đầu với khả năng tác chiến của hải quân Nhật.
Theo chuyên gia Edouard Pflimfin, với sức mạnh vượt trội này, Tokyo không sợ bị bao vây nhưng cảm thấy bị đe dọa. Quyển sách trắng quốc phòng năm 2010 đã đề nghị « tái phối trí chiến lược » và đã được chính phủ Shinzo Abe chấp thuận tiến hành : đem lực lượng trấn đóng ở phía bắc (đối phó với Nga) tập trung về phía nam (đề phòng Trung Quốc).
Tháng hai năm nay, Thủ tướng Shinzo Abe khẳng định « Nhật Bản đã trở lại » khi nói về các vấn đề kinh tế thế giới và an ninh quốc tế. Ông cũng cam kết sẽ « bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải và dân Nhật bằng mọi giá ».
Quân đội Nhật Bản trên đường hồi phục sức mạnh cho đến nay không làm cho các nước trong khu vực lo sợ. Philippines tuy là nạn nhân của quân đội Thiên hoàng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến đã công khai ủng hộ Nhật Bản tăng cường vũ trang để đối đầu với Trung Quốc.
Trở ngại duy nhất cho Thủ tướng Nhật Shinzo Abe là bản Hiến pháp chủ hòa mà ông tìm cách tu chính và tâm lý chống chiến tranh của dân Nhật. Tuy nhiên, để khắc phục hai cản lực này, thủ tướng Nhât có một đồng minh « khách quan » : Mối tham vọng biển đảo của Trung Quốc.
TAGS: CHÂU Á - NHẬT BẢN - PHÂN TÍCH - TRUNG QUỐC

Friday, December 20, 2013

Nhật Bản tăng cường quân sự, ngoại giao để đối trọng với TQ

Nhật Bản tăng cường quân sự, ngoại giao để đối trọng với TQ

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera nói chuyện trong một cuộc họp báo tại Bộ Quốc phòng ở Tokyo, Nhật Bản, 17/12/13
Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera nói chuyện trong một cuộc họp báo tại Bộ Quốc phòng ở Tokyo, Nhật Bản, 17/12/13
CỠ CHỮ 
Reuters
Hôm 17/12, Nhật Bản đã công bố chỉ dẫn quốc phòng mới để tăng cường lực lượng quân sự của mình trong khi tìm kiếm quan hệ gần gũi hơn với các đối tác châu Á để đối phó với một nước Trung Quốc quyết liệt hơn về mặt quân sự.

Chỉ dẫn quốc phòng của Nhật Bản nêu đích danh Trung Quốc cố tìm cách thay đổi hiện trạng bằng vũ lực trên vùng trời và vùng biển ở Biển Hoa Đông, Biển Đông và các khu vực khác, “dựa trên những tuyên bố của riêng mình, không tương thích với trật tự quốc tế được xác lập.''
                   
Lập trường của Trung Quốc đối với các nước khác và những động thái quân sự, kèm theo sự thiếu minh bạch về chính sách quân sự và an ninh quốc gia, là một mối quan ngại cho Nhật Bản và rộng lớn hơn là cộng đồng quốc tế, và do đó đòi hỏi phải theo dõi sát sao, chỉ dẫn này nói thêm.

Tuy nhiên tại một cuộc họp báo sau khi công bố vào thứ Ba, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera cho biết Nhật Bản vẫn hy vọng cải thiện quan hệ với Trung Quốc.
 
Kế hoạch dài hạn của Nhật Bản cũng đánh dấu một sự thay đổi tư duy từ thời chiến tranh lạnh là phòng vệ trước một cuộc tấn công của Nga từ phía bắc, nay chuyển sang một cuộc xung đột tiềm năng với Trung Quốc về phía tây và phía nam.                    

Đề cương chính sách mới cũng kêu gọi Nhật Bản để tăng cường khả năng phòng vệ trước các cuộc tấn công phi đạn đạn đạo, chẳng hạn như từ Bắc Triều Tiên.

Về phía Trung Quốc, Bộ Ngoại giao nước này đã kêu gọi Nhật Bản nỗ lực thực sự để duy trì hòa bình trong khu vực.

Trung Quốc và Nhật Bản hiện đang vướng vào tranh chấp lãnh hải ngày càng gay gắt đối với một nhóm đảo nhỏ mà Nhật Bản gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điếu Ngư.

Quan ngại gia tăng về nguy cơ Trung Quốc quân sự hóa không gian

Quan ngại gia tăng về nguy cơ Trung Quốc quân sự hóa không gian

Tên lửa Trường Chinh của Trung Quốc đưa phi thuyền Hằng Nga lên mặt trăng, 02/12/2013.
Tên lửa Trường Chinh của Trung Quốc đưa phi thuyền Hằng Nga lên mặt trăng, 02/12/2013.
REUTERS/China Daily

Trọng Nghĩa
Trong thời gian gần đây, Bắc Kinh càng lúc càng chứng tỏ năng lực trong lãnh vực chinh phục không gian. Dấu hiệu nổi bật nhất là sự kiện Trung Quốc vừa trở thành nước thứ ba trên thế giới thành công trong việc cho một chiếc xe thăm dò hạ cánh nhẹ nhàng xuống mặt trăng vào ngày 14/12/2013. Tuy nhiên, sự vươn lên của Bắc Kinh đã làm dấy lên nhiều mối quan ngại về nguy cơ Trung Quốc quân sự hóa không gian khi có đủ năng lực.

Điều cần phải công nhận trước tiên là ngoài các thành công của mình trong lãnh vực chinh phục không gian, Bắc Kinh đang càng ngày càng trở thành một tác nhân quan trọng trong ngành phóng vệ tinh thương mại.
Vào hôm nay 20/12/2013 chẳng hạn, vệ tinh viễn thông đầu tiên của Bolivia sẽ được một tên lửa Trung Quốc đưa lên quỹ đạo. Trước đây, Bắc Kinh cũng đã thành công trong việc đưa ba vệ tinh quan sát mặt đất của Brazil lên hoạt động trên không trung.
Đối với giới phân tích, Trung Quốc đã trở thành một cường quốc không gian thực thụ, cho dù chưa sánh kịp với Mỹ hay là Nga, hai nước đầu đàn trong lãnh vực này.
Trong vùng Châu Á, nhiều quốc gia khác cũng đang phát triển ngành công nghiệp vũ trụ của mình, từ Hàn Quốc, Ấn Độ, cho đến Nhật Bản, khiến cho một số nhà quan sát cho rằng công cuộc cạnh tranh riêng tại Châu Á trong địa hạt này sẽ rất gay gắt trong một vài năm tới đây.
Tuy nhiên, điều khiến các chuyên gia lo ngại là sự canh tranh đó không chỉ giới hạn trong các hoạt động thuần túy dân sự, thương mại, hay nghiên cứu khoa học, mà sẽ tràn qua lãnh vực quân sự.
Mối lo ngại này lại càng tăng trong bối cảnh Trung Quốc đã là nước đi đầu – hay nói đúng hơn là « đầu têu » trong mưu đồ quân sự hóa không gian. Ví dụ rõ ràng nhất là ngay từ năm 2007, Bắc Kinh đã thử nghiệm một loại vũ khí chống vệ tinh, dùng một phương tiện ngăn chặn phá hủy một trong những vệ tinh cũ của mình đang bay trong quỹ đạo.
Từ đó đến nay, dù không có thông tin nào được tiết lộ công khai, nhưng nhiều trang web chuyên môn đã cho rằng hồi tháng Năm vừa qua, Trung Quốc đã cho thử nghiệm một tên lửa đạn đạo mới có khả năng tấn công các vật thể bay trong không gian.
Sự vươn lên của Bắc Kinh trong địa hạt kể trên đã khiến Hoa Kỳ quan ngại. Theo ông John Logsdon, một chuyên gia Mỹ về không gian, đồng thời là cố vấn cho Cơ quan NASA, Mỹ « rất quan ngại về sức mạnh ngày càng tăng của kho vũ khí không gian của Trung Quốc, vốn có thể đe dọa hệ thống an ninh của Mỹ trong không gian ».
Nga, một cường quốc không gian khác cũng bắt đầu lo âu. Theo ông Marco Aliberti thuộc Viện Chính sách Vũ trụ Châu Âu tại Vienna, « Matxcơva bắt đầu thấy nơi Trung Quốc một mối đe dọa tiềm tàng (...) Còn đối với Hoa Kỳ, dường như là Trung Quốc đã thay vào chỗ của Liên Xô trước đây trong kế hoạch an ninh của Mỹ ».
Ấn Độ, nước vốn có quan hệ nhiều khi căng thẳng với láng giềng Trung Quốc; cũng không tránh khỏi quan ngại. Bà Rajeswari Pillai Rajagopalan, thuộc Quỹ Nghiên cứu ORF, một viện nghiên cứu độc lập tại Ấn Độ, xác định : « Mặc dù đã nhắc lại sự phản đối của mình đối với việc quân sự hóa không gian, Ấn Độ đã tính toán đến những tiến bộ về mặt vũ khí không gian nơi người láng giềng ».
Điều này giải thích vì sao Ấn Độ đã phóng vệ tinh quân sự đầu tiên của mình vào tháng Tám năm 2013.
TAGS: CHÂU Á - KHÔNG GIAN - PHÂN TÍCH - QUÂN SỰ - TRUNG QUỐC - VỆ TINH

Quốc hội Mỹ cho phép Hải quân và Không quân tăng cường tiềm lực

Quốc hội Mỹ cho phép Hải quân và Không quân tăng cường tiềm lực

Cảnh ráp chiến đấu cơ F-35 tái cõ xưởng của Lockheed Martin ở  Fort Worth, Texas. Với ngân sách mới cho 2014, Không quân Mỹ sẽ được trang bị thêm 29 chiếc.
Cảnh ráp chiến đấu cơ F-35 tái cõ xưởng của Lockheed Martin ở Fort Worth, Texas. Với ngân sách mới cho 2014, Không quân Mỹ sẽ được trang bị thêm 29 chiếc.
Reuters/Lockheed Martin/Randy A.

Trọng Nghĩa
Sau Hạ viện, với một đa số áp đảo, Thượng viện Mỹ vào hôm qua, 19/12/2013 đã thông qua ngân sách quốc phòng Hoa Kỳ cho tài khóa 2014. Điểm đáng chú ý là Quốc hội lưỡng viện Mỹ đã chuẩn y các yêu cầu trang bị thêm chiến đấu cơ và chiến hạm hiện đại của quân đội Mỹ.

Ngân sách quốc phòng năm 2014 vừa được thông qua bao gồm tổng cộng hơn 625 tỷ đô la, trong đó có hơn 80 tỷ được dành cho các chiến dịch quân sự của Mỹ ở nước ngoài, chủ yếu là tại Afghanistan.
Trong bối cảnh Chính quyền Obama đang triển khai chiến lược xoay trục qua vùng Châu Á – Thái Bình Dương, giới quan sát đặc biệt lưu ý đến việc ngành lập pháp Mỹ đã chấp thuận phê duyệt yêu cầu của Lầu Năm Góc muốn trang bị thêm các phương tiện hiện đại cho hai binh chủng Hải quân và Không quân.
Đối với ngành Hải quân, ngân sách quốc phòng Mỹ năm 2014 dự trù 1,8 tỉ đô la cho việc mua thêm bốn chiếc tàu chiến cận duyên LCS (Littoral Combat Ship), mà bốn chiếc sẽ được triển khai tại Singapore, bên bờ Biển Đông.
Ngoài ra, ngân sách cũng dự trù nâng mức trần chi phí lên thành 12,9 tỷ đô la cho việc đóng tàu sân bay mới USS Gerald R. Ford. Như vậy, chiếc hàng không mẫu hạm này sẽ là tàu chiến Mỹ đắt nhất từ trước đến nay.
Ngành Không quân Mỹ cũng không bị bỏ quên, với đèn xanh của Quốc hội Mỹ cho việc đặt mua 29 chiến đấu cơ phản lực F-35 như Lầu Năm Góc từng yêu cầu. Đề án F-35 là chương trình vũ khí đắt đỏ nhất của quân đội Mỹ, với mức chi phí dự kiến lên đến gần 400 tỷ đô la cho một đội gồm 2.443 chiếc.Quân đội Mỹ cũng sẽ được dùng 1,3 tỉ đô la để trang bị cho mình loại phi cơ trinh sát E-2D Hawkeye cải tiến.
Trong bối cảnh đấu đá quyết liệt tại Hoa Kỳ giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, việc thông qua ngân sách quốc phòng Mỹ là một dấu hiệu hòa thuận hiếm hoi, chứng tỏ mối quan tâm của ngành lập pháp đối với sức mạnh của đất nước. Thượng viện Mỹ đã thông qua ngân sách quốc phòng với tỷ lệ 84 phiếu thuận,15 phiếu chống. Trước đó (ngày 12/12), Hạ viện cũng đã chấp nhận dự thảo ngân sách với 350 phiếu thuận và 69 phiếu chống.
Hành pháp Mỹ dĩ nhiên là ủng hộ ngân sách quốc phòng mới. Nhà Trắng vào hôm qua cho biết là Tổng thống Obama sẽ sớm ký ban hành.
TAGS: HOA KỲ - NGÂN SÁCH - QUỐC PHÒNG - QUỐC TẾ

Hoa Kỳ tố cáo Trung Quốc ‘vô trách nhiệm’ khi cắt đường chiến hạm Mỹ trên Biển Đông

Hoa Kỳ tố cáo Trung Quốc ‘vô trách nhiệm’ khi cắt đường chiến hạm Mỹ trên Biển Đông

Tuần dương hạm Mỹ USS Cowpens
Tuần dương hạm Mỹ USS Cowpens
U.S. Navy

Trọng Nghĩa
Trung Quốc đã hành động một cách « vô trách nhiệm » trong một vụ đối đầu với một chiếc tàu Hải quân Mỹ trong tháng này tại vùng Biển Đông. Trên đây là lời tố cáo đích danh của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel hôm 19/12/2013. Đây là phản ứng chính thức đầu tiên của Washington về sự cố Mỹ - Trung mới trên Biển Đông từng được nhiều giới chức quốc phòng Hoa Kỳ tiết lộ trong những ngày qua, và mới chỉ được Bắc Kinh xác nhận ngày 18/12.

Phát biểu nhân một cuộc họp báo chung với Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chuck Hagel nhận định : « Hành động đó của Trung Quốc, cắt ngang đường đi phía trước... chỉ cách khoảng 100 mét trước mũi tàu Cowpens, không phải là một hành động có trách nhiệm ». Lãnh đạo Lầu Năm Góc bình luận thêm : « Đó là một hành động vô ích, vô trách nhiệm. »
Nhận định của ông Hagel là phản ứng công khai đầu tiên của một quan chức cấp cao tại Lầu Năm Góc kể từ khi sự cố xảy ra cách đây hai tuần, cụ thể là ngày 05/12/2013.
Theo một số viên chức quân sự Mỹ thì vào hôm đó, tuần dương hạm Mỹ có tên lửa dẫn đường USS Cowpens, khi đang đi trên Biển Đông, trong hải phận quốc tế, đã phải bẻ lái để tránh va chạm với một tàu đổ bộ Trung Quốc đã có thao tác chặn đường nguy hiểm. Chiếc tàu Trung Quốc này thuộc đội chiến hạm tháp tùng theo tàu sân bay Liêu Ninh được Bắc Kinh phái xuống tập trận trên Biển Đông.
Rút tỉa kinh nghiệm từ vụ đối đầu trên biển lần đầu tiên từ nhiều năm nay giữa Hải quân Mỹ và Trung Quốc, ông Hagel nêu bật sự cần thiết phải có thủ tục rõ ràng giữa quân đội hai nước để tránh nguy cơ đụng độ hoàn toàn có thể xẩy ra trong vùng Thái Bình Dương.
Đối với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, sự cố như vừa xẩy ra là « một thứ rất dễ gây cháy, có thể là ngòi nổ hoặc tia lửa làm cho một tính toán sai lầm nào đó nổ tung ». Do đó, theo ông, hai bên cần làm việc « để có một cơ chế có khả năng làm dịu một số vấn đề khi xảy đến ».
Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã chính thức loan báo vụ việc nhưng giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của sự cố vào hôm 18/12, trái ngược hẳn với giọng điệu hung hăng của báo chí nước này, tố cáo chiến hạm Mỹ là đã gây nguy hiểm cho hạm đội Trung Quốc trên Biển Đông.
TAGS: BIỂN ĐÔNG - CHÂU Á - HẢI QUÂN - HOA KỲ - QUỐC TẾ - TRANH CHẤP - TRUNG QUỐC

Saturday, December 14, 2013

Mỹ-Trung : Suýt xảy ra sự cố trên Biển Đông

Mỹ-Trung : Suýt xảy ra sự cố trên Biển Đông

Chiến hạm USS Cowpens trên Biển Đông (U.S. Navy / Josiah Connelly)
Chiến hạm USS Cowpens trên Biển Đông (U.S. Navy / Josiah Connelly)

Thanh Hà
Tàu của Hoa Kỳ và Trung Quốc suýt đâm nhau vào tuần trước khi một chiếc tàu của hải quân Trung Quốc đã tiến gần đến tàu chiến của Mỹ ở một mức độ nguy hiểm. Sự cố xảy ra trong bối cảnh quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington đang căng thẳng.

Tin trên được Bộ Quốc phòng Mỹ thông báo vào hôm qua 13/12/2013. Theo đó, tàu tuần dương của Hoa Kỳ có trang bị tên lửa dẫn đường, USS Cowpens, đã buộc phải chuyển hướng khẩn cấp, khi bị tàu của Trung Quốc chặn đường. Một quan chức Hoa Kỳ xin được giấu tên cho biết thêm là tàu của hải quân Trung Quốc chỉ còn cách tàu chiến Mỹ có 500 mét. Sự cố đã xảy ra tại vùng biển quốc tế, trên Biển Đông, hôm 05/12/2013.
Tàu tuần dương USS Cowpens đang ở một « vùng biển lân cận » với tàu sân bay mới của Trung Quốc, Liêu Ninh. Vẫn theo quan chức nói trên, « Cuối cùng, thủy thủ đoàn của đôi bên đã trao đổi thông tin với nhau một cách có hiệu quả để bảo đảm an toàn ».
Hãng tin AFP lưu ý, sự cố vừa qua trên biển đã được giải quyết ổn thỏa, nhưng điều đó cho thấy căng thẳng trong trong vùng Biển Đông, nơi mà Trung Quốc khẳng định chủ quyền đối với 80 % diện tích. Tai nạn đã được tránh khỏi vào phút chót nói trên cũng cho thấy quan hệ giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc đang rất phức tạp sau khi Bắc Kinh, hôm 23/11/2013 thông báo thiết lập « vùng nhận dạng phòng không » bao phủ lên một phần lớn ở vùng biển Hoa Đông.
Vùng phòng không của Trung Quốc trải rộng từ Hàn Quốc đến Đài Loan và kể cả khu vực quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, do Nhật Bản quản lý nhưng Bắc Kinh lại khẳng định đó là vùng thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Hoa Kỳ kêu gọi Trung Quốc từ bỏ dự án vùng phòng không nói trên. Cả Washington lẫn Tokyo, Seoul cùng điều máy bay quân sự đến khu vực. Đây là một tín hiệu chứng minh Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc cùng không chấp nhận luật chơi mới do Trung Quốc đề ra.
Một quan chức cao cấp của Bộ Quốc phòng Mỹ trong thông cáo ngày hôm qua 13/12/2013 nhắc lại : Hoa Kỳ đã « rất rõ ràng để hướng tới một mối quan hệ quân sự ổn định và liên tục với Trung Quốc », nhưng đồng thời « vì lợi ích của cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc » đôi bên cần « trao đổi một cách liên tục và trong tinh thần tin cậy lẫn nhau ».
TAGS: BIỂN ĐÔNG - CHÂU Á - HOA KỲ - TRUNG QUỐC

Thursday, December 12, 2013

Điểm mới trong Báo cáo sức mạnh quân sự Trung Quốc 2012

Điểm mới trong Báo cáo sức mạnh quân sự Trung Quốc 2012

VietnamDefence - Báo cáo thường niên về sức mạnh quân sự Trung Quốc của Lầu Năm Góc công bố tháng 5/2012 nhìn chung ít thông tin và số liệu, bảng biểu so với các báo cáo trước đó.
Việc trình các báo cáo thường niên này cho Quốc hội Mỹ đã trở thành bắt buộc đối với Bộ Quốc phòng Mỹ theo đạo luật về ngân sách quốc phòng năm 2000 (National Defense Autorisation Act for Fiscal Year 2000, Section 1202), sau đó các yêu cầu đối với các báo cáo được nêu rõ, điều chỉnh trong một đạo luật năm 2010 (National Defense Autorisation Act for Fiscal Year 2010, Section 1246).
Đánh giá các ưu tiên xây dựng quân sự của Trung Quốc, Báo cáo thường niên về sức mạnh quân sự Trung Quốc (Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2012) lưu ý rằng, “trong năm 2011, Đài Loan vẫn là mục tiêu có thể, quan trọng nhất của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, vì thế Trung Quốc tiếp tục gia tăng mở rộng các khả năng tiến hành chiến dịch quân sự chống lại hòn đảo này nếu Đài Loan chính thức tuyên bố độc lập khỏi Trung Quốc, cũng như ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột. Dự báo, Đài Loan sẽ vẫn là một ưu tiên đối với hoạt động xây dựng quân sự Trung Quốc trong thập niên tới, đồng thời Trung Quốc cũng đang từng bước tăng cường khả năng tung sức mạnh tới những vùng xa xôi của thế giới.
Việc xây dựng quân đội Trung Quốc được thực hiện xuất phát từ yêu cầu tiến hành “các cuộc chiến tranh cục bộ (khu vực) trong điều kiện tin học hóa” dựa trên cơ sở lý luận là “Các phương châm chỉ đạo về chiến lược quân sự trong thời kỳ mới” lần đầu tiên được công bố vào năm 1993 và được sửa đổi vào năm 2004.

Ngân sách quân sự chính thức của Trung Quốc trong giai đoạn năm 2001-2011 tăng trưởng với tốc độ trung bình 11,8%/năm, trong năm 2012 là 106,2 tỷ USD. Theo đánh giá của Lầu Năm góc, chi phí quân sự thực tế của Trung Quốc vượt quá con số công bố tới 30-100%. Ví dụ, nếu ngân sách chính thức năm 2011 là 91,5 tỷ USD, thì chi phí thực tế Mỹ ước tính là 120 -180 tỷ USD.
Về không quân Trung Quốc, trước đây lực lượng này chủ yếu tập trung cho nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ Trung Quốc thì nay đang dần chuyển đổi để có khả năng tiến hành các chiến dịch tấn tấn công và phòng ngự ở nước ngoài.
Trung Quốc đang nỗ lực tăng cường khả năng không quân vận tải nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia ở nước ngoài (4 máy bay vận tải Il-76 của không quân Trung Quốc đã tham gia sơ tán công dân Trung Quốc khỏi Libya khi nước này rơi vào nội chiến năm 2011).

Năm 2011, Trung Quốc đã bắt đầu triển khai một hệ thống tên lửa phòng không tầm trung mới (không nêu tên).
Trong số những ưu tiên phát triển khác của không quân Trung Quốc là đầu đầu tư cho các hệ thống phòng thủ tên lửa, cũng như hệ thống cảnh báo tên lửa tấn công.
Đáng chú ý là báo cáo không chỉ không đề cập đến cuộc cải cách cơ cấu tổ chức quy mô lớn của không quân Trung Quốc bắt đầu trong năm 2011, đi kèm với việc giải tán một phần các sư đoàn không quân, chuyển đổi các trung đoàn của các sư đoàn không quân này thành các lữ đoàn và thành lập các căn cứ không quân, mà còn dẫn ra những số liệu rõ ràng là đã lạc hậu về số lượng các sư đoàn của không quân Trung Quốc.

Ví dụ, một bản đồ bố trí binh lực chủ yếu của không quân Trung Quốc cho thấy có sự hiện diện của 2 sư đoàn không quân tiêm kích và 1 sư đoàn không quân ném bom ở đại quân khu Lan Châu. Trong khi đó, người ta biết rằng, ít nhất 1 sư đoàn không quân tiêm kích (sư đoàn 37) đã không còn tồn tại từ cuối năm 2011, các trung đoàn của nó đã được chuyển thành các lữ đoàn nay trực thuộc căn cứ không quân Urumqi.

Ở mức độ nào đó, có thể cho rằng, những thay đổi tương tự cũng đã xảy ra với cả một số sư đoàn khác ở các đại quân khu khác, ví dụ như sư đoàn không quân tiêm kích 30 ở quân khu Thẩm Dương - sư đoàn này đã bị giải thể, các trung đoàn được chuyển thành các lữ đoàn trực thuộc căn cứ không quân Đại Liên (Tuy nhiên, báo cáo của Lầu Năm góc khẳng định đại quân khu Thẩm Dương vẫn có 3 sư đoàn không quân tiêm kích). Những thay đổi như thế rõ ràng cũng xảy ra với cả sư đoàn không quân tiêm kích 29 ở quân khu Nam Kinh (Báo cáo của Lầu Năm góc nói ở đại quân khu này có 3 sư đoàn không quân tiêm kích như thời trước cải cách).

Báo cáo lưu ý việc quân đội Trung Quốc tiếp tục những cải cách về cơ cấu trong lục quân, cũng như sự gia tăng ồ ạt quân số các đơn vị đặc nhiệm trong năm 2011.

Theo báo cáo, 2 tàu ngầm nguyên tử mới lớp Thương (093) đã đạt đến khả năng sẵn sàng chiến đấu ban đầu và trong vài năm tới Trung Quốc có thể đóng thêm đến 5 tàu ngầm hạt nhân lớp này. Dự kiến, các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đường đạn mới lớp Tấn (094) trang bị tên lửa đường đạn xuyên lục địa JL-2 tầm bắn trên 7.400 km sẽ đạt khả năng sẵn sàng chiến đấu ban đầu trong hai năm tới.

Tàu sân bay Varyag của Liên Xô trước đây sẽ được sử dụng chủ yếu làm tàu huấn luyện và thử nghiệm, đồng thời sau khi Trung Quốc đưa vào sản xuất máy bay trên hạm thì tàu sân bay này có thể được sử dụng cho các chiến dịch hạn chế về quy mô và độ phức tạp. Những bộ phận riêng lẻ của tàu sân bay nội địa đầu tiên của Trung Quốc có lẽ hiện đã đang được chế tạo và tàu sân bay này sẽ đạt khả năng sẵn sàng chiến đấu sau năm 2015.
Để chuẩn bị cho một chiến dịch có thể xảy ra chống Đài Loan, Trung Quốc đặc biệt quan tâm đến việc phát triển ngư lôi và thủy lôi. Mỹ cho rằng, hải quân Trung Quốc đã tích lũy được hơn 50.000 quả thủy lôi, ngoài ra trong 10 năm qua, họ cũng đã nhận vào trang bị các mẫu thủy lôi cải tiến.
Về lực lượng hạt nhân chiến lược, Trung Quốc sẽ tiếp tục tuân thủ khái niệm răn đe hạn chế và không tìm kiếm sự cân bằng hạt nhân với Mỹ, trong khi tiến hành sản xuất các tên lửa đường đạn xuyên lục địa nhiên liệu rắn cơ động DF-31A và các biến thể cải tiến của tên lửa đường đạn xuyên lục địa nhiên liệu lỏng DF-5A (chưa rõ đây là sản xuất các tên lửa mới hay hiện đại hóa các tên lửa hiện có)

Trung Quốc hiện có khoảng 50-75 tên lửa đường đạn xuyên lục địa các loại (số lượng tên lửa và bệ phóng là như nhau), 5-20 tên lửa đường đạn tầm trung có tầm bắn 3.000-5.500, 75-100 tên lửa đường đạn tầm trung có tầm bắn 1.000-3.000 km, 1.000-1.200 tên lửa (200-250 bệ phóng) tầm ngắn (dưới 1.000 km). Ngoài ra, còn có 40-55 hệ thống tên lửa hành trình triển khai trên mặt đất với 200-500 tên lửa có tầm bắn trên 1.500 km.

Dự đoán, trong biên chế của không quân và không quân hải quân Trung Quốc có tổng cộng 2.120 máy bay chiến đấu, trong đó có 1.570 tiêm kích và 550 máy bay ném bom. Ngoài ra, còn có 1.450 máy bay chiến đấu các loại đã lạc hậu được cất giữ trong kho, sử dụng để thử nghiệm, huấn luyện chiến đấu...
Trung Quốc chỉ có 300 máy bay vận tải quân sự các loại.

Lục quân Trung Quốc có 1,25 triệu quân, 18 quân đoàn, 18 sư đoàn bộ binh cơ giới, 22 lữ bộ binh cơ giới, 8 sư đoàn và 6 lữ đoàn cơ giới hóa, 9 sư đoàn và 9 lữ đoàn xe tăng, 2 sư đoàn và 17 lữ đoàn pháo binh, 3 sư đoàn đổ bộ đường không (thuộc biên chế không quân), 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ (thuộc biên chế hải quân), trong trang bị có gần 7.000 xe tăng và 8.000 hệ thống pháo.

Trong biên chế hải quân có 26 tàu khu trục, 53 tàu frigate, 48 tàu ngầm thông thường, 5 tàu ngầm nguyên tử, 86 tàu tên lửa, 28 tàu đổ bộ chở tăng và tàu đốc đổ bộ, 23 tàu đổ bộ hạng trung.
Nguồn: P2, 1.6.2012.

Wednesday, December 11, 2013

Đại sử ký tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông

Đại sử ký tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông

EmailInPDF.
Biên niên các sự kiện chính liên quan đến tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, từ thế kỷ 19 đến nay.



Thời gian
Sự kiện
…..
…. (tiếp tục ̉ sung)
1816
 
Hoàng đế Gia Long Triều Nguyễn tuyên bố chủ quyền với Hoàng Sa sau khi triều đại này thành lập năm 1802. 
1835
Vua Minh Mạng phái một đoàn thám hiểm tới Hoàng Sa để đánh dấu chủ quyền.
1836
Vua Minh Mạng ra chiếu chỉ lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa tới các đảo Hoàng Sa để ghi lại lộ trình.
1867
Năm Tự Đức thứ 20, nhà vua tôn vinh các thủy binh đã tử vong trong quá trình ra các đảo.
1884
Nhà Nguyễn ký với Pháp Hiệp ước chính thức biến Việt Nam thành thuộc địa của Pháp.
3/1909
Chính quyền Quảng Đông Trung Quốc đã cử một đội khảo sát và tháng 6/1909 đã cử Đô Đốc Lý Chuẩn tới Hoàng Sa.
1930
Pháp tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa của An Nam, và chủ quyền đối với Trường Sa cho Pháp.
1933
Pháp tuyên bố chính thức về việc chiếm cứ một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó bao gồm đảo Trường Sa, Ba Bình, Thị Tứ và Loại Ta.
1938
Pháp thiết lập sự hiện diện thường xuyên ở Hoàng Sa. Một phân đội cảnh sát người Việt đã được gửi đến đồn trú thường xuyên ở đây.
1939
Sau khi chiếm hầu hết các tỉnh ven biển Trung Quốc và đảo Hải Nam, Nhật Bản đã đổ bộ lên Trường Sa. Nhật Bản tuyên bố chủ quyền chính thức ở quần đảo Hoàng Sa và coi đây là một vùng của đế chế Nhật Bản.
1940
Nhật đã xây dựng các căn cứ tàu ngầm trên đảo Ba Bình và Trường Sa, và một đường bay trên Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa).
1945
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Nhật đã rút khỏi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đặt các đảo vào tình trạng ‘không có người ở’ một lần nữa.
1946
Pháp gửi đoàn thám sát lại Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi nhắc lại yêu sách của của An Nam (Việt Nam) đối với Hoàng Sa và của Pháp đối với Trường Sa, nhưng không lưu lại quân đồn trú. Cùng thời gian này, Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch cũng gửi các đoàn khảo sát đến hai quần đảo, và đã đánh dấu chủ quyền và thành lập sự hiện diện trên đảo Phú Lâm ( ở phía Đông của quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (Trường Sa).
07/1/1947
Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố chính phủ Trung Quốc đã lấy lại các đảo Hoàng Sa và khôi phục lại chủ quyền của họ trên các đảo này.
1948
Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc ban bố bản đồ với “Đường Lưỡi Bò” bao gần hết Biển Đông.
1949
Phe Cộng sản thắng ở Trung Quốc lục địa, thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc chạy sang Đài Loan, tàn quân bị rượt đuổi từ Hải Nam, nên buộc phải rút quân ở Phú Lâm (Hoàng Sa) vào tháng 4 năm 1950 và Ba Bình (Trường Sa) vào tháng 5 năm 1950.
15/8/1951
Trung Quốc nêu lập trường về vấn đề hải đảo của mình thông qua ‘Tuyên bố về Dự thảo Hiệp ước Hòa Bình với Nhật Bản và Hội nghị San Francisco của Mỹ và Anh’ của Thủ tướng Chu Ân Lai: ‘Quần đảo Tây Sa và Nam Sa, giống như Đông Sa và Trung Sa, luôn thuộc lãnh thổ Trung Quốc.’
6/9/1951
Đại diện của Việt Nam Quốc gia dự hội nghị San Fransisco. Trong phát biểu tại Hội nghị, đoàn Việt Nam khẳng định chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
1951
Nhật Bản ký kết Hiệp ước Hòa bình với Đồng minh, theo đó Nhật chính thức đồng ý từ bỏ các quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với một số vùng lãnh thổ, trong đó bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, tuy nhiên hiệp ước không nêu ai sẽ được nhượng lại các quần đảo này.
1952
Hiệp ước Hòa bình Trung-Nhật đã được ký kết tại Đài Loan giữa Đài Loan và Nhật Bản trong đó có nội dung Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
3/1956
Một người Philippin là Thomas Cloma cùng những người đồng hành đổ bộ lên một số đảo của Trường Sa và đã yêu sách chiếm hữu 33 đảo và bãi trong một vùng biển rộng 65000 hải lý vuông, và đặt tên vùng này là Kalayaan (tiếng Anh là Freedomland).
1956
Khi Pháp rút khỏi Đông Dương Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Ngô Đình Diệm đưa quân ra thay  thế quân Pháp trên các đảo thuộc nhóm phía Tây của quần đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đảo chính của quần đảo Trường Sa đặt các cột mốc và kéo cờ của Việt Nam Cộng Hòa.
14/9/1958
Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng về tuyên bố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ấn định chiều rộng lãnh hải Trung Quốc 12 hải lý.
1971
Đài Loan quay lại Trường Sa và thiết lập sự có mặt liên tục trên đảo Ba Bình. Philippine tiến hành chiếm đóng một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
1971
Sau khi Đài Loan bắn vào một tàu đánh cá của Philippines, Philippines đòi Đài Loan rút khỏi đảo Ba Bình và cho quân chiếm đóng các đảo Vĩnh Viễn, Song Tử Đông, Loại Tá và Thị Tứ.
1971
Philippines ra tuyên bố chính thức yêu sách 53 đảo, theo đó, Philippines coi những đảo này là vô chủ, và họ có thể tự do chiếm hữu theo các hình thức thụ đắc lãnh thổ phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế là chiếm đóng và quản lý hiệu quả.
1973
Việt Nam Cộng Hòa sát nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
15-20/1/1974
Trung Quốc dùng không quân và hải quân đánh chiếm nhóm phía Tây của quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng hòa chiếm đóng. Kể từ đây, Trung Quốc chiếm trọn Hoàng Sa.
1974
Tại hội nghị Luật biển lần thứ 3, kỳ 2 tại Caracas, đại biểu của chính phủ Việt Nam Cộng hòa tố cáo Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực, và khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam
14/3/1975
Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã sách trắng về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lên án mạnh mẽ Trung Quốc dùng vũ lực cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và tỏ rõ quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên hai quần đảo.
1975
Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tiếp quản Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tuyên bố giành cho mình quyền bảo vệ chủ quyền đó.
11/11/1975
Bộ Ngoại giao Việt Nam DCCH gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
02/7/1976
Nước CHXHCN Việt Nam chính thức ra đời và đã kế thừa yêu sách chủ quyền của chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực tế đã tiếp tục kiểm soát Trường Sa.
1976
Việt Nam công bố bản đồ của nước Việt Nam thống nhất, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
12/ 5/ 1977
Việt Nam ra Tuyên bố thứ nhất về đường cơ sở để xác lập vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
1978
Philippines ban hành Nghị định 1599 của Tổng thống trong đó có sử dụng tên bằng tiếng Philippines Kalayaan để gọi quần đảo Trường Sa và khẳng định quần đảo Trường Sa về mặt pháp lý không thuộc bất kỳ quốc gia nào, nhưng do yếu tố kế cận, tầm quan trọng sống còn về an ninh, nhu cầu thiết yếu, sự chiếm đóng và kiểm soát hữu hiệu nên nay Philippines đã thiết lập chủ quyền hợp pháp với quần đảo này.
17/2/1979
Bắt đầu chiến tranh biên giới Trung-Việt
3/1979
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt – Trung, trong đó có điểm 9 tố cáo Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào ngày 19 và 20 tháng 1 năm 1974.
30/7/1979
Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã công bố sách trắng xuyên tạc một số tài liệu có liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chứng minh rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc với hai quần đảo này.
28/9/1979
Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, giới thiệu thêm 19 tư liệu liên quan đến chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo.
1979
Malaysia xuất bản bản đồ vùng thềm lục địa, trong đó bao gồm 3 đảo của quần đảo Trường Sa.
Anh thay mặt cho Bruney ra tuyên bố phản đối việc Malaysia đưa đảo Louisa vào bản đồ thềm lục địa.
1980
Trung Quốc công bố sách trắng lần thứ hai tuyên bố chủ quyền với quần đảo Tây Sa và Nam Sa, trong đó và thay đổi lập luận cho cho rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam chỉ là những đảo ven bờ của Việt Nam, không phải là Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc.
7/1980
Tại kỳ họp lần thứ 26 Hội Địa chất quốc tế ở Paris đoàn đại biểu Trung Quốc  báo cáo và cho lưu hành tài liệu địa chất về các bể dầu khí trong đó có đoạn nói quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là phần kéo dài của lục địa Trung Quốc.
12/11/1982
Việt Nam ra Tuyên bố về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải.
1982
Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng Trung quốc Dương Đắc Chí thị sát Hoàng Sa và Trường Sa.
12/1982
Việt Nam ban hành quyết định thành lập Trường Sa và Hoàng Sa là hai huyện đảo riêng biệt trực thuộc tỉnh Phú Khánh và Quảng Nam – Đà Nẵng.
1982
Đài Loan công khai quyết định đặt quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền tài phán của mình. Đồng thời, Chính quyền thành phố Cao Hùng thông qua kế hoạch 3 năm xây dựng các cảng và định cư tại đảo Ba Đình.
1982
Ký kết Công ước của LHQ về luật biển, đã được ký kết được coi là một bản Hiến pháp quốc tế về biển, có bởi nội dung đồ sộ và toàn diện, bao gồm phản ánh qua 320 điều, 17 phần và 9 phụ lục và chính thức có hiệu lực vào ngày 16/11/1994
1/1983
Tại hội nghị lần thứ hai về Hàng không khu vực châu Á- Thái Bình Dương, Trung Quốc đưa ra hai tấm bản đồ vẽ đường biên giới trên biển bao quanh gần hết Biển Đông.

4/1983
Ủy ban địa danh của Trung Quốc đã đặt tên cho các đảo, bãi, đá trong Biển Đông và đưa ra yêu sách đổi tên tiếng Anh của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành Tây Sa và Nam Sa.
1983
Malaysia chiếm đóng và chính thức tuyên bố chủ quyền đối với đảo Hoa Lau của quần đảo Trường Sa. Tuyên bố này nói rằng đảo Hoa Lau từ lâu đã là một bộ phận của lãnh thổ Malaysia.
6/1984
Hội nghị lần thứ 2 của Quốc vụ viện Trung Quốc khóa 6 đã phê chuẩn việc thành lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) của Việt Nam) đều thuộc tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc.
4/1985
Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Việt Nam đã thăm quần đảo Trường Sa.
1987
Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang tiếp tục có chuyến thị sát Hoàng Sa
1987
Bruney xuất bản một bản đồ để xác định ranh giới của vùng đánh cá và thềm lục địa trong đó có đảo Louisa thuộc quần đảo Trường Sa.
12/1987
Malaysia chiếm đóng thêm hai đảo là Kỳ Vân và Kiệu Ngựa thuộc quần đảo Trường Sa.
1988
Thứ trưởng Bộ ngoại giao Malaysia ra tuyên bố rằng các đảo Hoa Lau, Kỳ Vân, Kiệu Ngựa và Louisa nằm trên thềm lục địa của Malaysia nên thuộc Malaysia.
14/3/1988
Trung Quốc đã đánh chìm 2 tàu lớn của hải quân Việt Nam, bắn hỏng một tàu khác, làm chết và bị thương 20 người, mất tích 74 người. Chiến dịch này kéo dài đến ngày 6/4/1988 đã kết thúc với việc Trung quốc chiếm 6 nhóm đảo và đá ngầm gồm Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Xubi.
3/4/1988
Tỉnh Phú Khánh và Bộ Tư Lệnh Hải Quân thay mặt cả nước đã làm lễ truy điệu các chiến sĩ hải quân đã hy sinh trong sự kiện ngày 14/3/1988.
3/1/1989
Trung Quốc đặt bia chủ quyền trên các đảo và bãi đá đã chiếm được của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa.
28/4/1989
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố lên án Việt Nam xâm phạm trái phép một số “bãi Vạn An và bãi Nhã thuộc quần đảo Nam Sa” ( cụm KT – KH – DV Vũng Tàu – Côn Đảo của Việt Nam.)
1990
Tại Hội nghị Thành Đô, lãnh đạo hai nước Việt-Trung đã quyết định bình thường hoá quan hệ hai nước sau hơn 10 năm biến cố.
1990
Phát biểu trong chuyến thăm Xin-ga-po và Phi-líp-pin, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng lần đầu tiên chính thức đề xuất chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác phát triển quần đảo Nam Sa (Trường Sa), thông qua hiệp thương hữu nghị giải quyết vấn đề đảo Nam Sa vào lúc thích hợp”
25/2/1992
Quốc vụ viện Trung Quốc thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo  ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).
8/5/1992
Trung Quốc ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone của Mỹ, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí một lô 225.255 km2 trong khu vực Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc 21(Vanguard Bank) nằm trên-được coi là  thềm lục địa của Việt Nam, nằm ở phía Tây Nam của quần đảo Trường Sa, cách đảo Hải nam Trung Quốc hơn 600 dặm về phía nam.
16/5/1992
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm cho Trung Quốc phản đối việc ký kết trên vì khu vực này nằm trong thềm lục địa của Việt Nam (bãi Tư Chính), yêu cầubuộc công ty Crestone này phải ngừng lại ngay các hoạt động thăm dò tại đây.
22/7/1992
ASEAN ra Tuyên bố ASEAN về Biển Đông, kêu gọi các bên giải quyết bất đồng về chủ quyền và tài phán thông qua các biện pháp hòa bình
7/1992
Việt Nam  tham gia vào Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ASEAN (TAC)
9/1992
Trung Quốc khoan thăm dò tìm dầu ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ thuộc phía Việt Nam.
1993
Brunei ra Tuyên bố về ranh giới thềm lục địa có một phần liên quan đến vùng biển của quần đảo Trường Sa nhưng không yêu sách chủ quyền đối với bất kỳ một đảo, đá, bãi nào của quần đảo.
5/1993
Tàu Trung Quốc cùng công ty BP tiến hành thăm dò khai thác ở vùng biển thuộc Việt Nam.
12/1993
Việt Nam yêu cầu công ty Mỹ Crestone huỷ bỏ việc thăm dò khai thác dầu ở vùng biển thuộc Việt Nam
4/1994
Việt Nam ký hợp đồng với công ty dầu khí Mobil oil của Mỹ thăm dò khai thác dầu khí ở khu vực Thanh Long
12/5/1994
Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản đối Việt Nam cho phép công ty dầu khí Mobil-oil thăm dò khai thác ở khu vực Thanh Long là vùng biển phụ cận của quần đảo Nam Sa (Trường Sa) của Trung Quốc.
8/1994
Công ty Crestone cùng với công ty Trung Quốc khai thác bãi Vạn An Bắc 21 (lô 133, 134, 135). Trung Quốc đề nghị chia phần cho phía Việt Nam, cho rằng chủ quyền thuộc về Trung Quốc. TàuThuyền có  trang bị súng của Việt Nam buộc tàu khai thác Trung Quốc rời khỏi giếng dầu khỏi địa phận Việt Nam
1995
Trung Quốc xây dựng công trình trên dải ngầm Vành Khăn, căng thẳng Trung-Phi
7/1995
Việt Nam gia nhập ASEAN
8/1995
Trung Quốc và Philippin ký kết bộ quy tắc ứng xử [code of conduct] gồm 8 nguyên tắc với mục đích tránh những sự vụ tiếp theo trên Biển Đông và tăng cường hợp tác trên biển.
19/10/1995
Trung Quốc phản đối Việt Nam thăm dò địa chấn trong Vịnh Bắc Bộ.
15/12/1995
Trung Quốc đưa dàn khoan Nam Hải-02 vào Vịnh Bắc Bộ, cách đường trung tuyến 5-6 hải lý về phía Việt nam.
10/3/1996
Trung Quốc đưa dàn khoan Nam Hải-06 hoạt động ở Vịnh Bắc Bộ, vào sâu trong vùng biển của Việt nam 3 hải lý.
10/4/1996
PetroVietnam và công ty Conoco (Mỹ) ký hợp đồng thuê khai thác, đòi công ty đã ký hợp đồng khai thác với công ty Trung Quốc ngừng hoạt động.
15/5/1996
Uỷ ban thường vụ quốc hội Trung Quốc khoá VIII phê chuẩn công ước luật biển 1982. Cùng ngày, chính phủ Trung Quốc tuyên bố một phần đường cơ sở của Trung quốc lục địa và đường cơ sở thẳng của quần đảo Hoàng Sa.
1996
Đụng độ giữa tàu chiến Trung Quốc và tàu của hải quân Phi-líp-pin ở Trường Sa và gần bãi cạn Scarborough (Hoàng Nham), hải quân Philippin đã bắt giữ tàu cá và tàu nghiên cứu hải dương của Trung Quốc, bắt giữ ngư dân và “nhà nghiên cứu” Trung Quốc, bắn súng cảnh cáo và bắn hạ các cột mốc lãnh thổ do Trung Quốc dựng lên.
12/1997
Việt Nam phản đối tàu khai thác số 8 và hai tàu hộ vệ 615 và 616 của Trung Quốc thăm dò khảo sát dầu khí cách phía Tây bãi Phúc Tần 15 hải lý thuộc khu vực DK-1, bãi Tư Chính của Việt Nam. Tàu hải quân Việt Nam phải áp tải buộc các tàu này ra ngoài.
6/4/1998
Tàu Hải dương 4 của Trung Quốc tiến hành thăm dò ở phía Nam Hoàng Sa cách đường cơ sở của Việt Nam 155 hải lý.
4/1998
Hai tàu chiến của Trung Quốc số 772 và 697 đi sâu vào vùng biển của Việt nam ở Vịnh Bắc Bộ cản trở hoạt động của tàu khảo sát địa chấn GECOECHO của Việt Nam.
9/1998
Việt Nam phản đối sau khi Trung Quốc tuyên bố công ty Crestone và Trung Quốc tiếp tục thăm dò ở các đảo Trường Sa.
10/1998
Căng thẳng Trung-Phi tái diễn liên quan đến việc Trung Quốc củng cố công trình trên dải Vành Khăn
1998
Philippin và Mỹ ký Hiệp định về thăm viếng quân sự (Visiting Forces Agreement).
1998
Cả Trung Quốc và Đài Loan đều công bố Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo đó, một lần nữa chính thức thể hiện quan điểm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng mà họ thường gọi là “vùng nước phụ cận”.
Từ năm 1999
đến nay
Trung Quốc hàng năm đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá trong phạm vi từ vĩ tuyến 12 độ Bắc trở lên trong thời gian 03 tháng.
12/1999
Ký kết Hiệp định phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
12/2000
Việt Nam và Trung Quốc ra “Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa hai nước” và  ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ
4/11/2002
ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) trong khuôn khổ của cuộc họp cấp cao ASEAN 8 tại Phnompenh (Căm-pu-chia)
5/11/2002
Ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN, tại Phnom Penh.
2003
Trung Quốc tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC)
5/2003
Tranh chấp giữa Ma-lai-xi-a và Bru-nêi ở ngoài khơi Bắc Borneo.
9/2004
Trung Quốc thuyết phục Philíppin để hai công ty dầu lửa quốc gia CNOOC và PNOC ký Thỏa thuận thăm dò địa chấn Trường Sa trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Philíppin. Việt Nam phản đối Thỏa thuận này.
14/3/2005
Ký kết “Thoả thuận ba bên về tiến hành thăm dò địa chấn biển chung trong khu vực xác định tại Biển Đông” giữa ba Công ty dầu khí quốc gia (CNOOC của Trung Quốc, PetroVietnam và PNOC của Philíppin). Thời hạn của Thoả thuận là ba năm.
20/10/2007
Công ty ARCO của Mỹ và công ty dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc (CNOOC) ký hợp đồng khai thác dầu khí tại khu vực Tây Nam đảo Hải Nam 100 km, trong đó có một phần diện tích lấn sang vùng biển của Việt Nam thuộc lô 111 và 113.
Cuối năm 2007
Quốc Vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 03 quần đảo trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hành động này dẫn đến các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc ở Việt Nam.
Bộ Ngoại giao Việt Nam chính thức phản đối việc làm của Trung quốc thông qua người phát ngôn.
2/2/2008
Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển đã bay đi thăm đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa. Việt Nam và Philippin phản đối
20/7/2008
Báo South China Morning Post (Hồng Kông) đưa tin giới ngoại giao Trung Quốc tại Mỹ đã liên tiếp phản đối ban lãnh đạo của công ty ExxonMobil, đồng thời đe dọa rằng công việc kinh doanh của công ty này tại Trung Quốc Đại Lục có thể gặp trở ngại trong tương lai nếu ExxonMobil hợp tác với PetroVietnam trong việc thăm dò và khai thác dầu khí ở khu vực ngoài khơi miền Trung và miền Nam Việt Nam.
8/2008
Phó Thủ tướng Malaysia Najib Tun Razak ra đảo Hoa Lau để thị sát tình hình và tái khẳng định chủ quyền của Malaysia đối với đảo này và 4 đảo khác.
2008
Những bức ảnh trên vệ tinh thương mại khẳng định rằng Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ tàu ngầm lớn ở Tam Á, thuộc đảo Hải Nam.
24/11/2008
Theo hãng tin Bloomberg, Tập đoàn dầu khí Trung Quốc CNOOC Ltd công bố dự án gần 30 tỷ đôla để khoan tìm dầu khí trong các khu vực nước sâu tại Biển Đông.  
20/3/2009
Công ty British Petroleum (BP) của Anh tuyên bố rút khỏi dự án dầu khí ở lô số 05.2 và 05.3 thuộc bồn trũng Côn Sơn ngoài khơi Việt Nam.
 5/3/09
Thủ tướng Malaysia Abdullah Ahmad Badawi đi thăm và kiểm tra đảo Hoa Lau mà Malaysia gọi là đảo Layang Layang thuộc quần đảo Trường Sa
3/2009
Va chạm giữa giữa tàu tuần tra USNS Impeccable của Mỹ và năm tàu treo cờ Trung Quốc cách đảo Hải Nam 75 dặm.
10/3/2009
Tổng thống Phi-líp-pin Arroyo đã ký ban hành Luật Cộng hòa số 9522 về đường cơ sở mới (đường cơ sở cũ năm 1968), qua đó quản lý quần đảo Trường Sa và bãi cạn Hoàng Nham theo “quy chế đảo”. Trung quốc, Đài loan, Việt nam phản đối.
6/5/2009
Malaysia và Việt Nam nộp bản báo cáo chung đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía nam Biển Đông lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc(CLCS).
Trung Quốc gửi công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc phản đối, trong đó đính kèm bản đồ “đường lưỡi bò” . Việt Nam phản đối công hàm của Trung Quốc.
7/5/2009
Việt Nam nộp báo cáo đăng ký thềm lục địa mở rộng khu vực phía bắc nộp lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc (CLCS).
Trung Quốc gửi công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc phản đối, trong đó đính kèm bản đồ “đường lưỡi bò” . Việt nam phản đối công hàm của Trung Quốc.
4/8/2009
Philippin chính thức gửi công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc phản đối báo cáo về thềm lục địa mở rộng của Việt nam khu vực phía bắc và báo cáo chung Việt Nam, Malaysia khu vực phía nam.
Việt Nam và Malaysia phản đối công hàm của Philippin.
14/8/2009
Đại sứ Trung Quốc tại Philippines, Lưu Kiến Siêu đã tuyên bố rằng, Trung Quốc phản đối những kế hoạch khai thác dầu khí của Philippines ở Bãi Cỏ Rong trên Biển Đông và cho rằng hành động này là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Bãi Cỏ Rong, thuộc quần đảo Trường Sa, nằm cách đảo Palawan khoảng 60 dặm (100 km) về phía tây.
10/2009
Dưới sức ép của Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông không được thảo luận tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 12 tại Cha-am, Thái Lan.
…..
…. (tiếp tục ̉ sung)


Đại sử ký tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông

Đại sử ký tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông
Biên niên các sự kiện chính liên quan đến tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, từ thế kỷ 19 đến nay.


ĐỌC TIẾP...

Danh sách các đảo, đá, bãi thuộc quần đảo Trường Sa

Danh sách các đảo, đá, bãi thuộc quần đảo Trường Sa
ĐỌC TIẾP...

Biển Đông: Địa chiến lược và Tiềm năng kinh tế

Biển Đông: Địa chiến lược và Tiềm năng kinh tế
Bài viết giới thiệu về điều kiện tự nhiên, vị trí địa chiến lược, các  tài nguyên kinh tế của Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
ĐỌC TIẾP...

Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa
Người Pháp gọi là Archipel des ile Spratley, người Anh, người Mỹ gọi là Spratley Islands hay Spratlies. Trung Quốc gọi là Nansha (Nam Sa) hay Nan Wei quần đảo. Philipines gọi là Kalayaan. Nhật gọi là Shinan Guto.
ĐỌC TIẾP...

Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng SaQuần đảo Hoàng Sa nằm trong một phạm vi khoảng 15.000 km2, giữa kinh tuyến khoảng 111 độ Đông đến 113 độ Đông, khoảng 95 hải lý(1 hải lý = 1,853  km), từ 17o05’ xuống 15o45’ độ vĩ Bắc, khoảng 90 hải lý; xung quanh là độ sâu hơn 1000m, song giữa các đảo có độ sâu thường dưới 100m.