Sunday, September 21, 2014

Bình luận gia Paul Leaf : Đã đến lúc nên bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN



Bình luận gia Paul Leaf : Đã đến lúc nên bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN

Washington đang cần một đối tác mạnh tại Việt Nam để chống lại hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.
Đó là tựa đề của một bài viết của nhà bình luận Paul Leaf đăng trên báo The Diplomat hôm thứ Năm, lập luận rằng giữa lúc Hoa Kỳ đang cắt giảm ngân sách quốc phòng và cùng lúc phải đương đầu với nhiều cuộc khủng hoảng trên khắp thế giới, Washington đang cần những nước đối tác có sức mạnh, đặc biệt tại Á Châu, nơi mà các hành động xâm nhập của Trung Quốc đang đe dọa thay đổi hiện trạng khu vực.
Theo tác giả bài báo thì đó là lý do Hoa Kỳ nên hủy bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, bởi vì làm như vậy không chỉ tăng sức mạnh cho Việt Nam và đưa Việt Nam xích lại gần Hoa Kỳ hơn, mà còn có thể cải thiện nhân quyền tại Việt Nam, nếu như Hoa Kỳ đặt ra những điều kiện thích đáng trước khi bán các vũ khí ấy.
Lệnh cấm vũ khí sát thương đã được ban hành vào năm 1984 vì tình trạng nhân quyền tệ hại của nước này. Đến năm 1987, chính phủ của Tổng Thống Bush nới lỏng lệnh cấm đôi chút, và cho phép xuất khẩu một số vũ khí không sát thương cho Việt Nam. Mặc dù vậy, các hành động vi phạm nhân quyền vẫn tiếp tục tại Việt Nam, và sự thể này đã cầm chân Hoa Kỳ, không cho phép Washington xích lại gần hơn nữa với Hà nội.
Bình luận gia Paul Leaf liệt kê một số yếu tố đã cản trở việc hai nước thắt chặt quan hệ với nhau gồm có: những hạn chế đối với quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, quyền của các thiểu số sắc tộc và quyền của người lao động, cũng như tình trạng thiếu các cơ sở pháp lý và một hệ thống tư pháp độc lập.
Nhưng ông lập luận rằng sự thay đổi trong môi trường an ninh đòi hỏi Mỹ phải tái xét việc hủy bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam. Ông cho rằng giữa lúc Hoa Kỳ đang giảm chi phí quốc phòng, trong khi lại bị lôi kéo vào các cuộc xung đột mới ở Đông Âu và Trung Đông, Washington đang cần có những đối tác mạnh để tiếp tay đối phó với sự trỗi dậy không mấy hòa bình của Trung Quốc.
Nhà bình luận này nhận định rằng Trung Quốc là một mối đe dọa đang ngày càng tăng. Ngân sách quốc phòng của nước này là ngân sách lớn thứ nhì thế giới, và hầu như vượt qua mặt tổng chi phí quốc phòng gộp chung lại của 24 quốc gia ở Đông Nam Á.
Với ngân sách khổng lồ đó, Trung Quốc đã tài trợ cho một kho vũ khí đáng gờm để biểu dương lực lượng nhắm mục đích giới hạn sự tiếp cận của Hoa Kỳ đối với các vùng biển và không phận quanh khu vực.
Nhà bình luận này nêu bật những hành động gây hấn của Trung Quốc đối với Việt Nam trong năm nay ở Biển Đông, nơi hai nước có những tuyên bố chủ quyền chồng chéo và tranh giành những quyền lợi kể cả tài nguyên dầu khí và hải sản, và cũng là nơi có các tuyến hàng hải quốc tế hết sức quan trọng.
Đầu năm nay, Trung Quốc khởi sự đòi hỏi các tàu nước ngoài phải xin phép của Bắc Kinh trước khi đánh bắt cá trong một vùng biển chiếm tới 90% diện tích Biển Đông mà họ tuyên bố thuộc chủ quyền của họ. Thế rồi từ tháng Năm tới trung tuần tháng 7, Trung Quốc điều giàn khoan dầu  nước sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đâm va tàu cá và tàu hải ngư Việt Nam, đâm chìm một chiếc tàu.
Ông Leaf cho rằng Hà nội có thể là một lực đối trọng chống lại Bắc Kinh. Ông nêu rằng Việt Nam có dân số đông thứ 13 thế giới, gần 100 triệu người, và có một lực lượng quân đội năng động lớn thứ 11 trên thế giới, và dự kiến nền kinh tế Việt Nam sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 17 trên thế giới trước năm 2025. Chi phí quốc phòng của Việt Nam, theo nhà bình luận này đã tăng vọt 130% từ năm 2003 tới năm 2012, khiến Việt Nam trở thành quốc gia thứ nhì-  tính trên GDP- chi tiêu nhiều nhất vào lĩnh vực quốc phòng ở Đông Nam Á.
Tuy nhiên, những hành động khiêu khích của Trung Quốc ở Biển Đông không bảo đảm Washington và Hà nội sẽ chính thức liên minh chống lại Bắc Kinh. Ông nêu lý do là vì tại Việt Nam có một phe thân Trung Quốc rất có thế lực, ngay cả sau vụ giàn khoan, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam mô tả đó là một mối bất hòa không đáng kể giữa “hai nước anh em”. Thứ hai, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, và thứ ba, Việt Nam không có hiệp định quốc phòng với Mỹ.
Theo ông, Việt Nam có phần chắc sẽ vẫn tiếp tục chính sách đi hàng hai giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để có thể hưởng lợi từ cả đôi bên.
Nhưng dù cho có như vậy, ông lập luận rằng bằng cách hủy bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, Hoa Kỳ có thể chống lại một cách hữu hiệu hơn quyết tâm của Trung Quốc bằng cách tăng sức mạnh cho Việt Nam, và thuyết phục Hà nội xích lại gần Washington và các đối tác của Mỹ hơn.
Ông Paul J. Leaf làm việc cho một tổ chức nghiên cứu, chuyên về các vấn đề quốc phòng. Ông là một nhà bình luận thường xuyên về chính  sách đối ngoại của Mỹ, và là một luật sư tại một công ty luật quốc tế.
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sẽ đi thăm Washington vào đầu tháng 10 để tham khảo ý kiến với Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry. Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington (CSIS) cho rằng những cuộc họp giữa hai vị Ngoại trưởng là một diễn đàn để đưa ra những bước cụ thể hơn và đào sâu hơn quan hệ đối tác toàn diện đã được loan báo khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đến thăm Phòng Bầu Dục vào tháng Bảy năm 2013.
Năm tới, 2015, hai nước sẽ kỷ niệm 20 năm từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với nhau. CSIS cũng cho rằng các điều kiện hiện nay đã chín muồi để lãnh đạo hai nước đề ra những bước cụ thể để hoàn toàn bình thường hóa quan hệ song phương, dựa trên sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau.
Nguồn: The Diplomat

No comments:

Post a Comment