Wednesday, September 28, 2016

Bắc Kinh quyết thống trị Biển Đông để lập cấm địa cho tàu ngầm

Bắc Kinh quyết thống trị Biển Đông để lập cấm địa cho tàu ngầm

mediaHải quân Trung Quốc nhân cuộc tập trận chung với Nga, ngoài khơi Quảng Đông, kết thúc. Ảnh ngày 19/09/2016.REUTERS/Stringer
Diễn văn mới nhất của tổng thống Mỹ Barack Obama tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã chứa đựng một lời công kích nhắm vào các hành động hung hăng của Bắc Kinh nhằm quân sự hóa « một vài mỏm đá và rạn san hô » ở Biển Đông. Đối với tổng thống Mỹ : « Một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp dựa trên pháp luật sẽ mang lại một sự ổn định lớn hơn nhiều ».
 
Trên nhật báo Ấn Độ Times of India ngày 24/09/2016, nhà nghiên cứu lão luyện Nayan Chanda, tác giả tập biên khảo nổi tiếng Anh em thù địch – Brother Enemy – viết về tình hình Đông Dương sau ngày 30/04/1975, xuất bản năm 1986 – đã cho rằng : nếu mục tiêu cốt lõi của Trung Quốc là làm chủ Biển Đông, thì việc xây dựng sân bay và triển khai tên lửa trên các hòn đảo mới bồi đắp chỉ là điều rất nhỏ.
Thống trị Biển Đông là bước đầu cần yếu để trở thành cường quốc biển
Trong thực tế, theo chuyên gia người Ấn Độ này, giới lãnh đạo Bắc Kinh có một mục tiêu chiến lược bao quát hơn nhiều, một điều mà tổng thống Obama không thể công khai nói đến : Đó là thiết lập quyền thống trị trên Biển Đông, một chặng thiết yếu đầu tiên của Trung Quốc trên bước đường thực hiện tham vọng trở thành cường quốc biển khơi, một điều mà chắc hẳn Washington không hỗ trợ.
Khi tuyên bố rằng Biển Đông là « lợi ích cốt lõi » của họ, ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng, loại trừ hẳn khả năng thỏa hiệp hoặc đàm phán trên vấn đề này, Bắc Kinh đã nhấn mạnh giá trị chiến lược mà họ gắn cho Biển Đông.
Trên bề mặt, tuyên bố về lợi ích cốt lõi này có vẻ kỳ lạ bởi vì, ngoài việc đòi hỏi quyền sở hữu một cách mơ hồ, nhân danh chủ quyền lịch sử, trên một vùng biển rộng lớn, dồi dào tài nguyên dầu mỏ và ngư nghiệp (một đòi hỏi đã bị một tòa án quốc tế phủ nhận), Trung Quốc đã không hề cho thấy rõ ràng là họ tìm kiếm gì tại vùng biển nước nông là Biển Đông.
Dùng cả thủ đoạn ngoại giao lẫn võ lực để cản trở Việt Nam
Một số lợi ích của Trung Quốc trong vùng biển rất hiển nhiên : Bắc Kinh đã cho khoan dò dầu khí ở vùng Biển Đông, đã tìm cách lôi kéo các tập đoàn dầu mỏ nước ngoài bằng cách giao thầu khai thác, trong lúc lại dùng các thủ đoạn ngoại giao và cả sức mạnh cụ thể để cản trở không cho các nước khác, ví dụ như Việt Nam, thăm dò.
Trung Quốc cũng đã đơn phương cấm đánh bắt cá trong vùng biển của các láng giềng vào một số thời điểm nhất định trong năm, và gần đây còn đòi ngư dân từ các nước khác phải xin phép trước khi vào Biển Đông đánh bắt. Trung Quốc đã mở rộng đáng kể đội tàu tuần duyên của họ, trang bị vũ khí mạnh cho các chiếc tàu này, đồng thời khuyến khích đội tàu đánh cá của họ tích cực đến hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế các nước láng giềng.
Mỹ và nhiều nước khác đã phản đối việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, bị cho là có tác dụng cản trở quyền tự do hàng hải, điều mà Bắc Kinh đã mạnh mẽ phủ nhận. Thật vậy, việc hạn chế sự tự do hàng hải sẽ đi ngược với lợi ích kinh tế của Trung Quốc. Dẫu sao thì 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc được vận chuyển qua Biển Đông, chưa kể đến khối xuất khẩu khổng lồ của nước này.
Thế nhưng, điều mà Trung Quốc thực sự muốn làm là ngăn chặn các hoạt động do thám của tầu thuyền và phi cơ Mỹ trên Biển Đông. Theo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, tàu và máy bay nước ngoài được phép đi qua vô hại vùng đặc quyền kinh tế mở rộng của một nước khác.
Độc chiếm Biển Đông để tạo nên vùng cấm Hải Quân ngoại quốc
Tuy nhiên, từ năm 2001 – sau vụ một chiếc phi cơ Trung Quốc bị rơi sau khi cố gắng cản đường một máy bay do thám Mỹ ở phía nam đảo Hải Nam - đã liên tiếp xẩy ra một số sự cố, với việc quân đội Trung Quốc quấy nhiễu tàu hải quân và nghiên cứu hải dương học của Mỹ trên vùng biển quốc tế. Trong bối cảnh đó, tại sao Trung Quốc lại cố sức thiết lập quyền thống trị trong khu vực Biển Đông ?
Các chuyên gia nghiên cứu lãnh vực lập kế hoạch và triển khai lực lượng quân sự đã kết luận rằng điều mà Bắc Kinh muốn là tạo ra một vùng cấm hải quân ngoại quốc để bảo vệ lực lượng tàu ngầm còn non trẻ của Trung Quốc.
Trong hai thập niên qua, họ đã xây dựng một căn cứ tàu ngầm được bảo vệ chặt chẽ ở Tam Á, nằm sâu dưới các tảng đá trên đảo Hải Nam. Vấn đề mà Trung Quốc phải đối mặt trong việc triển khai tàu ngầm có vũ khí hạt nhân của họ từ Tam Á ra vùng biển khơi ngoài Thái Bình Dương chính là vùng nước nông của Biển Đông.
Do việc tàu ngầm Trung Quốc vẫn rất « ồn », hành trình đi về phía tây của họ sẽ bị phát hiện. Hiện nay, để tránh bị dò tìm, tầu ngầm Trung Quốc chỉ có thể sử dụng một con kênh nước sâu mang tên Bashi nằm giữa Đài Loan và Philippines, ở độ sâu 4.000 mét. Thế nhưng nơi này gần như là liên tục nằm trong tầm giám sát của Mỹ và Hải Quân các nước khác. Khi bố trí chiến đấu cơ và tên lửa tầm ngắn trên chuỗi đảo nhân tạo mà họ đã bồi đắp và quân sự hóa ở Biển Đông, Trung Quốc muốn gây khó khăn cho đối thủ trong công việc giám sát, đồng thời tăng cường khả năng gây nguy hiểm cho kẻ thù.
Mỹ phản ứng yếu ớt trong lúc Trung Quốc hùng hổ lấn tới
Mỹ tất nhiên, đã cho biết sẽ tiếp tục thực hiện các chiến dịch bảo vệ quyền tự do hàng hải tại các vùng biển bị Trung Quốc đòi chủ quyền một cách phi pháp. Trong thực tế, các động thái mang tính biểu tượng như vậy đã trở nên thưa thớt tạo nên sự hoài nghi về quyết tâm của Mỹ trong việc thách thức các yêu sách của Trung Quốc.
Trong khi đó thì Bắc Kinh đang dần tăng cường sức mạnh hải quân của họ, gia tăng số tàu ngầm hạt nhân, và cử chiến hạm ra tận Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Thỏa thuận gần đây với Djibouti đã cung cấp cho Trung Quốc một căn cứ quân sự đầu tiên ở hải ngoại, nơi hải quân Trung Quốc có thể đưa tàu vào trú ẩn và nhận tiếp tế.
Các « mỏm đá và rạn san hô » được quân sự hóa có thể có hậu quả nghiêm trọng hơn là những gì tổng thống Mỹ Obama đã nêu lên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.
Cùng chủ đề

No comments:

Post a Comment